Top

tin tuc ngay nay

Đạo Phật

Chủ nhật | 07/03/2021
Đạo Phật là tôn giáo lớn của nhân loại. Sự ảnh hưởng của đạo Phật là rất lớn đối với con người và xã hội trong suốt chiều dài lịch sử hơn 25 thế kỉ qua.

BÀI 1

 

A. DẪN NHẬP

Nghìn năm diệu pháp mưa bay,

Nghìn năm diệu pháp tuyên bày muôn phương

Nghìn năm sóng dậy trùng dương

Nghìn năm Phật pháp tỏa hương ngạt ngào.

Đạo Phật là tôn giáo lớn của nhân loại. Sự ảnh hưởng của đạo Phật là rất lớn đối với con người và xã hội trong suốt chiều dài lịch sử hơn 25 thế kỉ qua. Nếu ta ví nỗi khổ sanh tử của chúng sanh như người đang chìm đắm trong biển lớn thì Đạo Phật ra đời như chiếc thuyền lớn đầy đủ phương tiện vớt người vượt biển. Nếu màn vô minh che phủ tất cả chúng sanh như đêm tối không một ánh trăng, thì Đạo Phật là ngọn đuốc sáng, soi đường cho họ. Chính vì thế mà chúng ta không thắc mắc vì sao Đạo Phật ra đời trong khi xã hội Ấn Độ đã có 94 đạo giáo khác nhau.

Tại nước ta, thời kì đầu du nhập, Đạo Phật đã được tiếp nhận và nuôi dưỡng trong tâm hồn của dân tộc. Trải qua bao cuộc thăng trầm của đất nước, Đạo Phật càng gắn bó, càng ăn sâu vào tâm tư của con người như một phần thân thể không thể chia cắt được qua hình ảnh:

Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của Tổ tông.

Thiết nghĩ, con người luôn sống và hướng về tương lai, tương lai là một con đường đầy bất trắc, không ai biết ngày mai ra sao, họ luôn lo buồn, bất an,…Đạo Phật với kho tàng giáo lý vừa cao siêu, vừa dung dị đã giúp ích thiết thực cho mỗi con người trong mọi thời đại; như tiếng chuông cảnh tỉnh tha nhân về sự thật đau khổ và con đường diệt khổ, mãi còn vang vọng trong mọi quốc gia mà Đạo Phật có mặt. Vậy, Đạo Phật là gì?

B. CHÁNH ĐỀ

      I. ĐỊNH NGHĨA

            1. Đạo
Theo Phật học phổ thông của Hòa Thượng thượng Thiện hạ Hoa, chữ Đạo có 3 nghĩa:

- Đạo là bổn phận, tức đạo đức nhân sinh phù hợp với quan niệm xã hội, với sự thật, phục vụ nhân sinh, như bổn phận với tổ quốc, đất nước, ông bà, cha mẹ, thầy tổ, vợ chồng, con cái…

- Đạo là con đường, lộ trình, phương pháp để con người đi từ đau khổ đến an vui, cấu nhiễm đến thanh tịnh, tội lỗi đến giải thoát.

- Đạo là chân lí, sự thật, bản thể, chân như.

        2. Phật 
Phật tiếng Phạn là Buddha, Trung Hoa dịch là Giác giả. Đây là chỉ cho Đấng giác ngộ hoàn toàn.

- Giác: sáng suốt

- Ngộ: nhận rõ các vấn đề của cuộc sống

Phật là người Giác ngộ, người tỉnh thức, người đã tận diệt tham, sân, si; có thể nhận ra các vấn đề của cuộc sống một cách rõ ràng, đúng đắn. Phật là bậc đầy đủ 3 tánh:

- Tự giác: tự mình giác ngộ hoàn toàn do công phu tu tập, thoát khỏi sự si mê tăm tối trong cõi trần.

- Giác tha: mình đã giác ngộ rồi lại đem những phương pháp tu tập ấy dạy cho mọi người cũng được giác ngộ như mình.

- Giác hạnh viên mãn: là sự giác ngộ hoàn toàn và thành tựu viên mãn mọi hạnh nguyện lợi mình và lợi người.

Cho nên, Phật là danh từ chung chỉ cho những bậc đã tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, chứ không phải là danh từ riêng để gọi một người nào nhất định. Bất cứ ai tu hành đạt đươc 3 tánh trên cũng đều gọi là Phật.

Vậy Đạo Phật là con đường do Đức Phật tuyên bố, truyền đạt; con đường ấy đã được thực nghiệm, thực chứng. Đứng trên phương diện hành động, Đạo Phật là những phương pháp đúng đắn, chân thật, phù hợp với chân lí đạo đức, có khả năng hướng dẫn con người hoàn thiện đạo đức, từ đạo đức hoàn thiện đó, con người có một đời sống minh triết, sống một cuộc sống an vui chân thật; là con đường đưa người trở về cố hương giác ngộ.

Đứng về phương diện thực thể, Đạo Phật là tánh giác sẵn có của tất cả chúng sanh, tức Phật tánh. Đức Thế Tôn từng dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, nên nói:

Con tin có Phật ngự trong lòng

Cõi lòng thanh tịnh tợ hư không

Tòa sen phảng phất hương thơm ngát

Át cả bùn nhơ chốn bụi hồng.

Qua đây, ta thấy chủ yếu của Đạo Phật là sự sáng suốt, nên nói đến Đạo Phật, người ta thường biểu trưng bằng hình ảnh phóng quang, ngọc minh châu, cây đuốc, ngọn đèn,v.v…, đó là con đường sáng, con đường của sự giác ngộ, tỉnh thức.

Nếu xét theo phương diện những yếu tố cần phải có của một Tôn giáo, là vị giáo chủ, tín đồ, hệ thống giáo lí và hình thức sinh hoạt lễ nghi; Đạo Phật có đầy đủ những yếu tố trên, mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày ở những phần sau.

     II. ĐẠO PHẬT CÓ TỪ LÚC NÀO?

Theo sách Phật Học Phổ Thông, đứng về phương diện bản thể thì Đạo Phật có từ vô thỉ (nghĩa là không có đầu mối, không có giới hạn trong thời gian). Vì Đạo Phật là bản tánh sáng suốt sẵn có nơi mỗi chúng sanh, nên có chúng sanh là có Đạo Phật; mà chúng sanh có từ vô thỉ, thì Đạo Phật cũng có từ vô thỉ.

Đứng về phương diện lịch sử và hạn cuộc trong thế giới này thì Đạo Phật có mặt cách đây hơn 2600 năm, trước Thiên Chúa Giáo hơn 5 thế kỷ.

   III. NGƯỜI KHAI SÁNG RA ĐẠO PHẬT

Tín đồ Phật giáo phụng thờ ai?

Chẳng có ai ngoài đức Như Lai

Là vị lương y muôn bệnh khổ

Một người hướng đạo vạn đường gai.

Ngược dòng thời gian trở về quá khứ cách đây hơn 25 thế kỷ, trong một buổi ban mai tại vườn Lâm Tỳ Ni, hoa Ưu Đàm Bát La đã nở trên đất Ấn. Giống hoa linh thiêng mỗi lần nở là báo hiệu đấng giác ngộ ra đời. Thái tử Tất Đạt Đa ra đời giữa lúc xã hội Ấn Độ đang bước vào thời kỳ rối loạn của tư tưởng và sự phân biệt khắc khe của 4 giai cấp: Tăng lữ, Vua chúa, Buôn bán và Nô lệ. Được biệt đãi và có uy quyền nhất là tu sĩ Bà-la-môn, bao nhiêu nghi lễ, quy tắc văn hóa, đạo đức đều nằm trọn trong tay họ; họ tha hồ thao túng và ngược đãi dân chúng thuộc giai cấp kém hèn.

Về Tôn giáo, tu sĩ các đạo phần đông chủ trương khổ hạnh ép xác, quần chúng đa số rơi vào tình trạng mê tín. Tình trạng đó đã kéo dài từ năm này qua năm khác, khiến người dân Ấn phải sống trong bầu không khí ngạt thở. Trong lúc mọi người đang khao khát mong cầu một Đấng vĩ nhân xuất hiện, để san bằng, lấp cạn những núi sầu, biển hận đang phô bày giữa cuộc đời, thì Thái tử Tất Đạt Đa ứng cơ ra đời tại Ca Tỳ La Vệ, xứ Trung Ấn Độ, thuộc Népan ngày nay, vào ngày trăng tròn tháng Tư năm 624 trước Tây lịch. Ngài là con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da.

 

Còn nhớ vô thỉ cây bảo thọ

Ngàn năm giữ mãi vẻ nên thơ.

Chúng ta có thể tưởng tượng và nghe như tiếng vang ngân của bảy bước chân son đang bước trên nền đất gấm hoa khi Ngài giáng hạ. Phong sương làm sao có thể xóa nhòa bức tranh sinh động, gợi lên bởi hình ảnh trẻ thơ khi Ngài dang đôi tay bé nhỏ ôm trùm cả vũ trụ vào lòng. Như tiếng suối reo, tiếng chim ca hay là bài thơ bất diệt, được kết đọng bởi muôn ngàn giai điệu trần gian, để phụ họa và ngân dài theo câu nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” của Đấng siêu phàm ngàn lần tôn kính.

Thuở nhỏ cho đến lúc trưởng thành, cưới vợ, sanh con, Ngài sống trong nhung lụa êm ấm, vợ đẹp con ngoan. Qua những lần ngự du, chứng kiến trước cảnh sanh, già, bệnh, chết, đó là những thực trạng đau khổ của con người mà không ai có thể tránh khỏi. Ái ân rồi cũng phải chia li; thêm vào đó là sự sinh sống của chúng sinh, xây hạnh phúc của mình trên nỗi đau khổ của người khác; những nỗi bất công của cuộc đời đã xúc động mạnh vào Bi tâm của Thái tử. Phải chăng Ngài đã cảm thông với nỗi khổ đau của con người, đã chan hòa tình thương trong muôn vật, để rồi cuối cùng, năm 19 tuổi (theo Phật giáo Bắc Truyền), vào ngày 8 tháng 2 âm lịch, Ngài đã từ giã hoàng cung quyết chí xuất gia, ra đi vì tiếng kêu đau thương của muôn loài. Trong giờ phút thiêng liêng trọng đại để quyết định cuộc đời mình, Ngài tự bảo:

Ta không muốn quyền vương hay cấp tước,

Của bao người đang trồi hụp biển nguy,

Ngày mai đây Ta quyết chí ra đi,

Tìm chân lí cho muôn người soi sáng.

Ta không thể vùi thân trong lửa đạn,

Kiếm sa trường nhuộm màu áo hoàng vương,

Không thể vui trên vạn khổ tang thương,

Của nhân thế muôn đời trồi hụp mãi.

Ta ra đi mang kiếp người hồ hải,

Tìm đạo vàng soi sáng cả trần gian.

Từ giã hoàng cung giữa đêm khuya, Ngài vượt tường thành ra đi tìm chân lí cứu đời. Trong đêm tối, Thái tử nói cùng Xa-nặc:

- Trời tối nhân gian mờ mịt quá,

Giờ này Thái tử định đi đâu?

- Chính đời mờ mịt nên Ta phải,

Đi để tìm ra ánh đạo mầu.

- Ngày mai sẽ có bao người khóc,

Nhớ tiếc thương Ngài cảnh biệt li.

- Ta sẽ trở về khi thấy đạo

Cứu thoát nhân gian vạn khổ sầu.

“- Người ạ! Sẽ là một thứ tình yêu giả trá, nếu ta chỉ ở cạnh những người thân để hưởng những lạc thú ích kỷ. Ta muốn đừng bịn rịn với tổ quốc nhỏ hẹp, để được yêu vũ trụ bao la.”

Ngài vượt thành ra đi, để lại hoàng cung tất cả tình thương yêu nồng thắm. Ngài ra đi phải chăng là chuyến đi của kẻ sống quá đầy đủ, muốn tạo cho đời mình những khúc lỗi nhịp, để được hưởng thú mạo hiểm chốn rừng sâu? Chắc chắn không bao giờ có hiện tượng tâm lí đó. Bởi vì, như chúng ta biết, sau khi từ giã hoàng cung, Ngài đã sống cuộc đời tu sĩ suốt năm năm tầm sư học đạo, và chẳng quản ngại gian lao, thực hành những pháp tu khổ hạnh đến 6 năm. Trải qua 11 năm viễn chinh trong cát bụi, sương gió cuộc đời đã phủ một lớp dày trên vai người Vương giả. Đâu phải Ngài không biết hưởng những thú vui đầm ấm trong một quốc gia thái bình, thịnh trị. Nhưng trước sự mê lầm và đau khổ của chúng sinh, hạnh phúc tạm bợ ấy đối với Ngài không còn có nghĩa lí gì.

Sau bao năm trắc nghiệm bản thân, trải qua 49 ngày đêm tư duy dưới cội Bồ đề, một ngày kia (8 tháng 12 âm lịch), khi sao mai vừa ló dạng, Ngài đã thấu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh, thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni (lúc Ngài 30 tuổi).

Như bài ca khải hoàn, Đức Thế Tôn tuyên bố:“Xuyên qua bao kiếp luân hồi, Như Lai thênh thang đi mãi, Như Lai tìm mãi nhưng không gặp. Hỡi kẻ làm nhà kia, nay ta đã gặp ngươi rồi, từ nay ngươi không còn dựng nhà được nữa.” (PC 153-154).

Với tuệ giác, Đức Phật nhận thấy chân lí mà mình chứng ngộ quả thật thâm huyền, khó nói bàn; nhưng không vì thế mà Ngài không truyền bá cho chúng sanh. Do đó, Đức Như Lai đã dùng quyền trí để thấy rõ các pháp sai biệt, giáo hóa chúng sanh bằng cách lập ra nhiều pháp môn phương tiện để tu hành, mỗi pháp môn đều phù hợp với từng căn cơ trình độ của chúng sanh mà Ngài nhận thấy tất cả đều có khả năng thành Phật. Suốt ròng rã 49 năm, Ngài đi khắp các lưu vực sông Hằng, thuyết giảng phương pháp giải thoát cho tất cả những ai có duyên với Ngài. Trong thời gian Ngài tại thế, giáo đoàn Phật giáo gồm đầy đủ 4 chúng được thành lập, ánh sáng Phật Pháp đã lan tỏa khắp nước Ấn Độ bấy giờ. Đến 15 tháng 2 âm lịch, lúc 80 tuổi, Ngài thị hiện Niết Bàn tại rừng Sa La Song Thọ xứ Câu Thi Na.

Song lâm quỳ dâng tòa Như Lai

Nhơn Thiên chiều hôm vắng bóng Ngài

Ôi đời thương tiếc, bao người khóc

In dáng người xưa, đau đớn thay!

Như trên, chúng ta đã đi sâu vào cuộc đời của Đức Phật, tìm ra những nét chính, khơi sáng những đặc điểm ấy để làm mẫu mực cho chúng ta trên bước đường tu học. Cuộc đời của Đấng giác ngộ là bài thơ bất diệt, là một họa phẩm không phai tàn, một đại dương không bao giờ khô cạn. Ngài là đấng Đại Giác Thế Tôn của ngàn phương muôn thuở. Ngài ra đời là ánh sáng tuyệt vời vô tận, phá tan màn đêm u tối của vô minh, khai phát mặt trời Trí Giác cho muôn loài. Suốt 49 năm hoằng dương chánh pháp, Ngài đã giáo hóa hết mọi tầng lớp, nhiếp phục ngoại đạo khiến họ trở về với chánh pháp. Bao nhiêu thành thị đã đi qua, bao nhiêu làng mạc đã đến, từ dòng sông lạnh cho đến bãi cát nóng, từ những ngọn núi bạc đầu cho đến những cánh đồng xanh, không nơi nào không lưu vết chân của người Giác ngộ. Cuối cùng nơi rừng Sa La, Ngài đã yên nghỉ sau 80 năm hoàn thành thệ nguyện. Ngài viên tịch, nhưng ánh sáng Đạo Phật không bao giờ tắt, lời Ngài là viên âm, Giáo Ngài là pháp vũ đã thấm nhuần qua mọi căn cơ và thời đại.

     IV. GIÁO LÝ CỦA ĐẠO PHẬT

Giáo lí Đạo Phật hết sức thậm thâm vi diệu, phong phú và đa dạng. Những lời dạy cao siêu của Ngài đều rút ra từ kinh nghiệm thiết thực của bản thân và rất thực tế, chứ hoàn toàn không xuất phát từ những luận thuyết huyền bí, siêu huyền vượt ra ngoài sự hiểu biết của nhân sinh. Có thể nói rằng, Đạo Phật là phương thức sống, lẽ sống, lối sống để có được hạnh phúc chân thật, như Giám mục Milman nhận xét: “Tôi càng ngày càng cảm thấy Đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài; Ngài là đường lối, là chân lí, là lẽ sống.”

Tính cách của Đức Phật được thể hiện qua các kinh điển còn lưu lại, cho thấy Ngài chỉ dạy những gì Ngài đã thực nghiệm, cần thiết cho đời sống thoát khổ. Do vậy, nội dung của Đạo Phật không ở nghi lễ, triết học hay thần thoại, mà chính là ở trong lối sống, cách ứng xử đối với bản thân, giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên vũ trụ. Ni trưởng Huỳnh Liên có lần viết:

Nơi Đức Phật, con người thực tế

Không thần linh tô vẻ hoang đường

Lòng nhiệt thành, nếp sống giản đơn

Tự nỗ lực, phát huy ánh sáng.

Giáo lí Đạo Phật tùy theo cơ duyên mà hóa độ chúng sanh, luôn khế hợp với chân lí cuộc sống. Ví dụ: nói sanh, lão, bệnh, tử là định luật mà mỗi con người phải trải qua, không ai có thể tránh khỏi trong một đời người; thành, trụ, hoại, không là sự biến dịch của vạn pháp, đó là chân lí muôn đời bất di bất dịch (Khế lí). Đồng thời, giáo lí ấy luôn khế hợp với mọi hoàn cảnh, địa lí, kinh tế, chính trị, căn cơ chúng sanh. Nghĩa là tính Khế cơ: pháp của Phật hợp với căn cơ của chúng sanh, ví như diệu dược, mà đức Phật là vị lương y tùy bệnh cho thuốc. Nên nói: “Chúng sanh đa bệnh, Phật pháp đa phương.”

Giáo lí ấy bao gồm trong 3 tạng: Kinh, Luật, Luận:

- Kinh: là những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chư vị Thánh đệ tử… đã nói khi còn tại thế, để dạy chúng sanh dứt trừ phiền não và đạt đến quả Niết Bàn.

- Luật: là những Giới luật mà Đức Phật đã chế ra cho các đệ tử để răn dạy những điều đáng làm và những điều không đáng làm, nhằm ngăn ngừa những điều xấu ác và tăng trưởng những điều lành; trau dồi thân tâm cho thanh tịnh.

- Luận: là những điều luận bàn được ghi lại thành những bộ luận, phần nhiều do đệ tử của Đức Phật làm ra để bàn giải rõ ràng nghĩa lí mầu nhiệm trong Kinh, Luật; hoặc quyết đoán tánh tướng của các pháp, phân biệt những điều phải, trái, chánh, tà để cho người đời khỏi nhầm lẫn.

        V. SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO PHẬT

Hoa Nghiêm suối ngọc thậm thâm

Vườn Nai vang dội pháp âm nhiệm mầu

Linh Sơn diệu pháp vô cầu

Ta Bà hiển thị một mầu pháp thân.

Về phương diện lịch sử, sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn đã thực hiện hoài bão tối thượng: vân du khắp đó đây trên vạn nẻo đường xứ Ấn, Ngài đã cảm hóa được mọi tầng lớp từ vua quan cho đến hạng người cùng đinh hạ tiện, những ai có duyên đều được Ngài hóa độ. Nên nói: “Phật hóa hữu duyên nhân”.

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn thì các đệ tử của Ngài kế thừa sự nghiệp hoằng pháp độ sanh như ngài Ma ha Ca Diếp, A Nan, v.v…, cho đến các vị Tổ sư Vô Trước, Thế Thân, Long Thọ, Mã Minh v.v…. Từ Ấn Độ, Phật giáo lan truyền dần vào các nước lân cận; rồi toàn cõi Á Đông và cuối cùng là toàn thế giới. Sự truyền bá này đi theo hai hướng:

Hướng đi về phía Bắc gọi là Bắc Truyền, Bắc Phương hay Bắc Tông Phật giáo, hay Phật Giáo Phát Triển, gồm các nước: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Li, Nhật Bản, Việt Nam, v.v…

Về phương Nam thì gọi là Nam Truyền, Nam Phương hay Nam Tông Phật Giáo; hay Phật Giáo Bảo Thủ, gồm các nước: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Nam Dương, Việt Nam, v.v…

Đối với Việt Nam, không phải ngẫu nhiên mà văn sĩ Hồ Dzếnh thốt lên rằng: “Trang sử Phật, đồng thời là trang sử Việt, trải bao độ hưng suy, có nguy mà chẳng mất.”

Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam đến nay, trải qua nhiều thời đại, Phật giáo đã hội nhập và đồng hành với vận mệnh của đất nước và con người Việt Nam, đem ánh sáng chân lí của Đạo Phật đến với mọi tầng lớp, mọi đối tượng trong xã hội. Phật giáo thịnh hành nhất là vào thời Lí - Trần từ thế kỉ X đến XIV, với hình ảnh những vị Thiền sư, vua, quan: vua Lý Thái Tổ, Vạn Hạnh Thiền Sư, Khuôn Việt quốc sư, v.v…đã cống hiến cả sự nghiệp và cuộc đời mình để tô thắm trang sử vàng son, lúc này Phật giáo là quốc giáo, như câu nói:

Nghiêng vai gánh đạo vào đời

Cho đời tỏ ngộ ta người cùng tu.

Đạo Phật truyền vào Việt Nam như dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tinh thần dân tộc Việt Nam, như dòng suối mát thấm sâu vào lòng đất mẹ và đã thích hợp với phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam. Đạo Phật với tình thương và trí tuệ, đến với Đạo Phật là chúng ta tin giáo lí thâm sâu, đầy tính từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha của Đức Thế Tôn, chứ không phải vì bạo lực hay vì danh lợi.

Nguồn hạnh phúc bố ban tâm hòa thuận

Khắp muôn loài đón nhận đức từ bi

Kể từ đây đường sanh tử viễn li

Cửa Phật giáo muôn đời luôn rộng mở.

Về phương pháp truyền bá, những lời dạy của Đức Phật được gọi là Kinh với đầy đủ tính khế lí, khế cơ. Cho nên, chân lí ấy luôn luôn được ứng dụng vào cuộc đời, đem lại lợi ích thiết thực cho những ai áp dụng thực hành.

Điểm nữa, cuộc đời là một dòng biến thiên, mỗi thời mỗi khác nên sự truyền bá giáo lí của Đạo Phật luôn mang tính: “Tùy duyên mà bất biến”, không hề mang hình thức cổ hũ đi vào thời đại văn minh; cũng không mang hình thức rất hợp thời trang mà bỏ mất chân lí.

Nếu tình cảm và lí trí là hai yếu tố quan trọng để con người có một cuộc sống an vui, thì sự truyền bá Đạo Phật phải đáp ứng được hai vấn đề này. Đó là Kinh, Luận thường được giảng cho Phật tử nghe để họ thấm nhuần triết lí Phật giáo; đồng thời, những hình thức nghi lễ tán tụng về các bài kinh, câu kệ hòa với tiếng chuông, nhịp mõ, tiếng khánh nhip nhàng khiến tâm hồn người nghe được nhẹ nhàng, thanh tịnh. Có như thế, sự truyền bá mới có hiệu quả thiết thực.

        VI. ĐỐI TƯỢNG TÔN THỜ CỦA PHẬT GIÁO

Đối tượng tôn thờ của người đệ tử Phật là ba ngôi cao quý: Phật, Pháp, Tăng.

- Phật: là đấng toàn giác, toàn bi, toàn trí, nhưng không phải là toàn năng. Do trí tuệ viên mãn nên Ngài có đủ cả Tứ vô lượng tâm, Lục Ba-la-mật, thần thông diệu dụng. Do lòng từ bi vô lượng nên Ngài vận dụng phương tiện, tùy căn cơ mà hóa độ chúng sanh. Nên nói: Phật chi trí tuệ, thị chuyên vi phá trừ tham sân si, mạn đẳng phiền não. Phật chi năng lục, xác năng sử nhất thiết chúng sanh, ly nhất thiết khổ, đắc cứu cánh lạc.” Vì lẽ đó, Ngài được gọi là bậc Lưỡng Túc Tôn, được thế gian tán thán, ca ngợi là Đức Từ Phụ, như trong bài kệ xưng tán Đức Thế Tôn mà ta tụng hằng ngày:

Pháp vương Vô Thượng Tôn

Tam giới vô luân thất

Thiên nhơn chi Đạo sư

Tứ sanh chi Từ phụ.

     Tôn thờ Phật là ta tự nguyện đi theo Đức Phật trên con đường tìm kiếm hạnh phúc an vui cho chính mình và mọi người. Bởi vậy, tôn thờ Phật là ta biết trở về và nương tựa vào bậc Phước Trí vẹn toàn là lý do chính đáng, cao thượng, sâu xa và thực tiễn. Nói cách khác, Phật là người đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc đời. Đưa đường để ta tạo phước đức và phát huy trí tuệ; Chỉ lối tình thương và hiểu biết. Thế gian còn đường nào sáng đẹp hơn đường từ bi, trí tuệ không? Phật dạy làm phước không phải để hy vọng tận hưởng quả báo tốt đẹp, Ngài khuyên phát huy trí tuệ không phải để khôn lanh hơn người khác, mà phước đức và trí tuệ ấy phải hướng đến mục đích tự giác, giác tha; là xây dựng nụ cười và lau khô nước mắt cho nhân loại. Cho nên, Phước của Phật là phước vô lậu, không phải phước hữu lậu nhơn thiên. Trí của Phật là nhất thiết chủng trí, là “trí tuệ như hải ”, khác xa thế trí biện thông. Với trí tuệ ấy, Ngài thống lý được đại chúng trời người, tự tại với tất cả - gọi là Nhất thiết vô ngại. Học theo Phật là chúng ta tập đi theo con đường của Ngài đã đi và thành tựu quả vị mà Ngài đã chứng. Vì lẽ đó, chúng ta tôn thờ Phật.

     - Pháp: được nói đến ở đây là lời dạy chân thật của bậc Phước Trí vẹn toàn của Phật nói ra. Vì thế, Pháp ấy toàn bích, nhiệm mầu, là phương thuốc hay, có khả năng trị liệu được những khổ đau của mọi người; những pháp môn ấy luôn khế hợp với căn cơ của mọi chúng sanh ở mọi đối tượng, có giá trị siêu việt cả không gian và thời gian; vừa là những phương pháp giúp chúng sanh thể nhập đại đạo, và cũng là kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta phát vô thượng tâm. Giống như nước bốn biển chỉ có một vị duy nhất là vị mặn, thì Pháp Phật tuy nhiều, gần tám muôn bốn ngàn pháp môn nhưng chỉ có một vị duy nhất là vị giải thoát. Chính vì thế mà Võ hậu Tắc Thiên bên Trung Hoa đã làm bài kệ tán thán giáo pháp của Như Lai:

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

     Vô thượng: là bởi trong thế gian này không có phương pháp nào giải quyết khổ đau dứt khoát hơn, triệt để hơn, toàn diện hơn, thực tiễn hơn Pháp của Phật.

     Thậm thâm: vì Pháp là những phương pháp hóa giải ham muốn: quy y Pháp ly dục tôn. Pháp là vi diệu, vì tôn thờ Pháp là học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa tâm tánh để điều phục những cám dỗ và hệ lụy vào các dục, căn bản là ngũ dục: tài - tiền bạc, tài sản, vật chất; sắc - ái tình nam nữ; danh - tiếng tăm; thực - ăn mặc; thùy - ngủ nghỉ, hưởng thụ. Cao hơn, dục chính là thói quen xấu, phiền não và vô minh. Pháp của Phật đi ngược lại xu hướng, sở thích của phàm phu chúng ta, vì muốn thoát khổ đau thì phải đi ngược lại những nguyên nhân của đau khổ. Không còn chọn lựa nào khác, tôn thờ Phật thì đồng thời chúng ta cũng tôn thờ Pháp:

Nghe lại lời kinh Phật diễn giảng

Pháp mầu vi diệu chúng học tu

     Đã, đang và sẽ có những người can đảm chọn con đường trái ngược phàm tình ấy để hiện thực hóa giáo lý Đức Phật. Họ là Tăng.

Kính lạy Tăng, người thừa chí cả

Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu

Từ bi thuyết pháp vô cầu

Đem đèn trí tuệ dẫn đường chúng sanh.

     - Tăng: tiếng Phạn gọi là Sangha, Trung Hoa dịch là Tăng-già, nghĩa là hòa hợp chúng. Tăng là đoàn thể tu hành từ bốn vị Tỳ-kheo trở lên, cùng chung chí hướng, cùng tu đạo giải thoát, sống đoàn kết và hòa hợp theo tinh thần “lục hòa cộng trụ” trong chánh pháp. Là một đoàn thể có tổ chức, có lý tưởng và nhiệm vụ cao cả nhất thế gian, là thay Phật lưu truyền chánh pháp tại nhân gian. Nên Tăng là Chúng Trung Tôn - tập thể đáng tôn kính nhất trời người. Tăng đáng kính vì đây là đoàn thể duy nhất nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, thì hình ảnh Tăng-già được nâng lên như Phật: “Nhất Tăng đáo nhất Phật lai”. Không ai có thể thay Tăng trong trách nhiệm hướng dẫn chúng ta thực hành pháp và duy trì mạng mạch Đạo Phật. Chiêm ngưỡng hình dáng của Tăng, chúng ta thấy hình ảnh Đức Phật; noi theo hành động của Tăng, chúng ta nếm trải được vị ngọt chánh pháp. Hơn nữa, Tăng thân soi sáng, dắt dìu và nâng đỡ ta trên con đường tu tập. Hình ảnh chư Tăng với:

Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Chỉ vì sự sanh tử

Giáo hóa tháng ngày qua.

     Đó là hình ảnh vừa cao cả, vừa thanh tịnh, giải thoát của đoàn thể Tăng- những người đã và đang phát Vô thượng tâm để thể giải đại đạo, với mong muốn thâm nhập kinh tạng nhằm sở hữu trí tuệ như hải. Chỉ chừng đó thôi cũng đã quá nhiều lý do khiến chúng ta suốt đời tôn thờ và quy y Tăng.

     Tam Bảo là ba ngôi quý báu. Sự quý báu của Phật là thuyết đạo; sự quý báu của Pháp là chở đạo; và sự quý báu của Tăng là chở đạo. Sự quý báu đó được đúc kết trong bài kệ:

Chân bảo thế hy hữu

Minh tịnh cập thế lực

Năng trang nghiêm thế gian

Tối thượng bất biến đẳng.

     Nghĩa là: Tam Bảo là quý báu chân thật trên đời này ít có. Vừa sáng suốt, thanh tịnh, vừa có sức mạnh có thể làm cho thế gian được tốt đẹp, yên tĩnh, cùng tột không bao giò thay đổi.

     Như vậy, đối tượng tôn thờ trong Đạo Phật là Tam Bảo. Trong ba ngôi cao quý: Phật, Pháp, Tăng thì Tăng là nhân tố quan trọng nhất, vì nếu không có Tăng thì Phật - Pháp không ai giảng dạy để chúng ta biết đến để tôn thờ và tu tập; đồng nghĩa với việc, nếu không có Tăng Bảo thì chắc chắn chúng ta không biết Đạo Phật là gì.

Hoang mang giữa quảng đêm trường

Nhờ đèn Tam Bảo soi đường chúng sanh.

Mênh mông bể khổ lênh đênh

Nhờ thuyền Tam Bảo chúng sanh thoát nàn.

        VII. MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT

Đến với Đạo Phật dù là bằng sự tình cờ hay hữu ý thì mỗi người đều có những trải nghiệm, lợi ích và mục đích. Theo kinh Trung A-hàm, Đức Phật dạy có ba mục đích chính:

                1. Muốn tự điều phục mình

Từ xưa đến nay, con người luôn muốn chinh phục những đối tượng khác ngoài mình. Vị vua, tổng thống muốn phát động chiến tranh để thâu tóm nước khác; nhà thám hiểm muốn chinh phục đỉnh núi cao, đường bơi dài (chinh phục thiên nhiên); trong phạm trù tình cảm, đa số ai cũng muốn chinh phục người bạn mà mình yêu mến; một em học sinh muốn hoàn tất bài toán hóc búa, v.v…Điều đó thể hiện, con người luôn luôn muốn chứng tỏ khả năng của mình, muốn thể hiện bản ngã của mình để người khác ngưỡng mộ. Nhưng, trong giáo lí của mình, Đức Thế Tôn dạy: “Chiến thắng ngàn quân địch, không bằng chiến thắng chính mình, chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

Chiến thắng chính mình tức tự điều phục, làm chủ được bản thân mình, là chế ngự được tham dục, sân hận, ác ý. Như vậy, tự điều phục mình có nghĩa là đạt được sự tự do. Tự do là khát vọng muôn đời của nhân loại, là nhu cầu thiết yếu sau nhu cầu ăn uống, nhưng bản chất của tự do là gì thì ít ai nhận định được. Con người càng tìm kiếm tự do bên ngoài thì càng mất tự do. Bởi vì, như trong Tập văn sông Hương, tác giả viết: “Con người tự do trước mỗi hành vi của mình, nhưng tổng số các hành vi ấy lại trói buộc con người vào một nghiệp chướng nào đó”. Như vậy, theo quan điểm Đạo Phật, nếu mất tự do là sự trói buộc, vướng mắc vào dục vọng, sân hận, hãm hại, thì tự điều phục mình, chế ngự mình, tự chiến thắng mình là sự vươn tới tự do.

“Tự do là ung dung trong ràng buộc

Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau.”

(Y Sa)

Chính vì thế mà người Phật tử khi đã tự điều phục mình thì đứng trước sự thất bại trong công danh, sự nghiệp, sự mất mát, thay đổi trong tình yêu, v.v… người ấy vẫn an ổn, vững chãi, không bị ưu sầu, phiền muộn, đau khổ, phát cuồng, tự tử,… Đây là mục tiêu thứ nhất của Đạo Phật.

               2. Muốn đạt được sự thanh tịnh, an lạc

Sự an lạc tùy thuộc vào tư duy, cảm xúc của mỗi người. Nếu tâm tư của một người bị chi phối, chế ngự bởi sự lo lắng, buồn rầu, sợ hãi thì họ không thể có an lạc. An lạc và hạnh phúc đi đôi với nhau; hạnh phúc có hay không tùy thuộc vào thái độ tâm lý ổn định hay không. Một người khỏe mạnh, giàu có, nhưng trong lòng sôi sục dục vọng, hận thù thì người ấy không thể có sự an lạc và hạnh phúc; một người đầy danh vọng và sự thành đạt mà trong lòng lo lắng bất an, sợ hãi chế ngự thì không thể có hạnh phúc được.

“Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau”, Đức Phật dạy rằng, một người đạt được sự thanh tịnh, an lạc là người khi có điều không vui đến, những điều lo âu, sợ hãi chế ngự thì không bị chúng làm chi phối, vướng bận; một người đạt được các trạng thái tâm an định trong các tầng thiền định từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền, như lời dạy trong kinh Pháp Cú: “Không có hạnh phúc nào lớn bằng sự yên tĩnh của tâm hồn”. Đây là mục tiêu thứ hai của Đạo Phật.

                3. Muốn đạt được giải thoát, Niết-bàn

Đây là mục đích tối hậu của mọi người Phật tử: chấm dứt mọi đau khổ, thoát ly sanh tử luân hồi, thành tựu trí tuệ viên mãn. Nỗi khổ thật sự và lâu dài chính là vô minh; niềm hạnh phúc chân thật và vĩnh cữu là sự chấm dứt vô minh.

Như vậy, giáo lý Đạo Phật giúp con người làm chủ bản thân, chuyển hóa nội tâm từ bất an và đau khổ trở nên an ổn và hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại. Có tự chủ, con người sẽ có an lạc, hạnh phúc; có an lạc và hạnh phúc sẽ dẫn đến giải thoát Niết-bàn ngay cõi đời này.

Trên trái đất tròn xoay

Bạn và tôi đi tìm hạnh phúc

Hạnh phúc ở đâu xa!

Ngay trong phút giây này.

     VIII. TÔN CHỈ CỦA ĐẠO PHẬT

               1. Tính xác thật của chân lý

Hiện nay, thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với tư tưởng tiến hóa của nhân loại đòi hỏi phải thẩm định lại nhiều tư tưởng triết học xưa và nay. Đương nhiên, những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa học đều phải bị đào thải. Thế nhưng, tòa nhà cổ kính hơn hai mươi lăm thế kỷ của Chân lý Phật giáo vẫn trường tồn cùng năm tháng, thời gian, sừng sững như cây đại thọ giữa núi non trùng điệp.

Điều này chứng tỏ Phật giáo đã toát ra một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ một giá trị tinh thần phong phú, tinh thần ấy thể hiện Chân lý và Giáo pháp của Phật giáo. Chúng ta đều biết rằng, Chân lý Đạo Phật mà ta được biết đến do sự chứng ngộ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khai ngộ ở ngay thế giới này, chân lý này vận hành cùng vũ trụ - nhân sinh (Duyên khởi). Nó tồn tại khách quan trong sự sống của loài người. Do đó, Đức Phật có xuất hiện hay không, nó cũng vận hành như vậy.

Đạo Phật chủ trương sự hiểu biết rộng rãi, thấu triệt, và cao tột (Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác). Sự hiểu biết này căn cứ trên những thực nghiệm tâm linh, trên sự giải thoát giác ngộ của một vị Phật đã siêu xuất vô minh và sinh tử luân hồi. Ở đây là cái biết về chân tướng của vạn hữu mà ta gọi là chân lý. Vấn đề chân lý trong Đạo Phật được quan niệm như thế nào?

Ðạo Phật chủ trương rằng tri thức con người có thể đạt được đến chân lý, với điều kiện là con người phải chuyển cái tri thức hiện thời thành trí tuệ Bát Nhã. Tri thức của chúng sinh thường bị bao nhiêu mê ám che lấp (vô minh). Nay diệt được những mê ám ấy thì có thể chuyển Thức (tri thức) thành Trí (Bát Nhã), và với khả năng này, con người mới có thể trực nhận được Chân lý.

Chư Phật là những người đã phá trừ được vô minh, sau khi vô minh đã bị trừ diệt, Bát Nhã Trí (Prajna) sanh, khi đó các Ngài có thể trực nhận được chân lý vạn hữu. Sau đó, các Ngài dùng phương tiện giáo pháp để chỉ bày chân lý cho chúng sanh. Chúng sinh phải nương vào giáo pháp ấy để tìm dần đến chân lý bằng học tập, bằng thực hành. Vì thế, chân lý không nằm trong kinh điển, và kinh điển chỉ là phương tiện chỉ bày chân lý. Cho nên đức Phật có dạy: "Chân lý là mặt trăng. Giáo lý của ta là ngón tay chỉ mặt trăng. Ðừng lầm ngón tay ta là mặt trăng vậy".

Nếu y theo kinh điển để giải nghĩa, để tìm chân lý trong những dòng chữ, thì đó chính là chỉ biết nhìn ngón tay mà chưa biết nhìn mặt trăng. Nhưng rời bỏ hẳn kinh điển đi thì lại có thể rơi vào những điên đảo vọng tưởng. Thế nên, một vị Tổ sư đã nói: "Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết", nghĩa là: "Chấp chặt nơi văn tự mà giải nghĩa, thì oan cho ba đời chư Phật, mà rời bỏ kinh điển thì lại lạc vào những tà thuyết của ma vương".

Kinh điển chính là những "ngón tay chỉ mặt trăng" nhờ đấy mà con người có được những phương tiện để trở thành bậc thánh nhân giác ngộ. Đối với những Thánh giáo nầy, ta cũng phải nên tìm hiểu, thực nghiệm rồi mới tin. Ví như trong khi con người đang cố chấp vạn vật là thường, có bản ngã, mà nghe Phật dạy một chân lý gồm có chủ trương vô thường vô ngã thì con người phải kiểm soát lại xem có thực rằng vạn vật là vô thường vô ngã hay chăng. Nếu thực thì khi đó ta mới tin.

Bản chất của con người là yêu sự thật, vậy thì người học Phật cũng không thỏa mãn với những ngón tay chỉ mặt trăng, những bóng dáng của chân lý, mà cần có đủ năng lực trí tuệ để học hiểu, để nhận thấy những điểm đúng chân lý của giáo pháp để tin. Cuộc thực nghiệm mà thái tử Tất Ðạt Ða đã hoàn thành một cách vẻ vang và rực rỡ dưới cội Bồ Ðề.

                    2. Tôn trọng sự sống

Trong lĩnh vực truyền đạo, Đức Phật luôn thực hành với phương châm:“Ta ra đời vì mục đích an lạc, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Ngài dạy đệ tử giữ những nguyên tắc đạo đức, gọi là Giới luật; trong đó có giới: Từ bỏ đời sống giết hại sinh mạng người và vật. Không đe dọa mạng sống của ai, dù là sinh mạng nhỏ nhất. Điều này thể hiện rõ trong nội dung các bài kệ Tỳ Ni mà Đức Thế Tôn dạy đệ tử nên hành trì trong mọi cử chỉ, hành vi, mọi lúc, mọi nơi để có chánh niệm và tránh làm tổn hại đến sinh mạng của chúng sanh quanh ta.

Vấn đề ăn uống của người Phật tử cũng thể hiện tính tôn trọng sự sống. Thời Phật còn tại thế, khi Tăng đoàn tạo được sự ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, Đức Thế Tôn dạy đệ tử không nên thọ những thức ăn có nguồn gốc từ động vật được tín chủ dâng cúng, mà chính mắt ta thấy con vật đó bị giết vì ta, tai nghe tiếng chúng kêu la khi bị giết và nghi ngờ rằng, con vật đó bị giết vì làm thức ăn cho ta…Chính đặc tính này đã góp phần bảo vệ cán cân sinh thái, môi trường, khí hậu.

                3. Tính nhân bản

Đức Phật tôn trọng sự sống, nhưng trọng tâm mà Ngài hướng đến là con người, tiêu biểu là giáo lí Ngũ Uẩn. Chỉ con người mới đầy đủ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; nên điểm căn bản nữa mà chúng ta nhận thấy được ở Chân lý Phật giáo là tính nhân bản. Vị giáo chủ không phải là một Thần Linh, hay Thượng Đế đầy quyền uy thưởng phạt, mà là một con người thật sự như bao nhiêu người khác. Sự kiện này đã hình thành một khái niệm về tính Nhân bản của Phật giáo. Đạo Phật quan niệm, con người là trung tâm điểm, hay nói cách khác, không có nhân loại thì không có Chân lý Phật giáo hiện hữu trên cõi đời này.

Trong thế giới quan của Đạo Phật, chủng loại chúng sinh được chia thành sáu bậc: Thiên, Nhân, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Trong sáu giới ấy, chúng sanh ở cõi Thiên thì khó nhận thức được khổ đau vì cuộc sống của họ quá ư sung sướng. Trái lại, các cõi Atula, Địa ngục, Súc sinh, Ngạ quỷ, chúng sanh sống trong hoàn cảnh tối tăm đọa đày nên cũng không dễ nắm bắt được Chân lí Phật-đà. Duy chỉ có cõi Nhân, bản thân con người được coi là hội đủ điều kiện tốt nhất để đạt đến các quả vị tu chứng trí tuệ trong Phật giáo, vì con người mới có hoàn cảnh nhận thức được khổ đau của cuộc sống (đây là điều kiện thích ứng để dễ dàng khai sáng) và có khả năng khai sáng được ngọn đèn trí tuệ nơi chính tấm thân nhỏ bé này. Điều này, Hecraclite- triết gia Hy Lạp cổ đại từng nói: “Con người là một cây sậy có tư tưởng”, tuy nhỏ bé và yếu đuối nhưng con người có khả năng tư duy, có ý thức, có tâm lí, có trí tuệ, có đầy đủ những yếu tố cần thiết để xây dựng cho mình một đời sống an vui, hạnh phúc.

Phật giáo quan niệm rằng, con người là chủ nhân của mọi hành vi của chính bản thân mình ở cả ba thời: Quá khứ, hiện tại và vị lai, là thượng đế duy nhất có toàn quyền thưởng phạt cho chính cuộc đời mình. Ngoài mình ra không ai hoặc bất cứ thần linh nào có khả năng đưa mình lên thiên đàng hay ném mình xuống địa ngục. Trong Kinh Pháp Cú, câu 145, Đức Phật dạy rằng: "Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta. Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch".

Với những tâm hồn khát khao tự do và giải thoát tuyệt đối, luôn nỗ lực, tinh tấn cùng với sự hiểu biết Chân lý của Đạo Phật, mỗi chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu học tập và nhập thế. Ngược lại, cho dù có ngàn vị Phật dang tay tế độ cũng không làm sao đưa chúng ta thoát khỏi biển trần lao đầy thống khổ này.

Đối với Phật giáo, con người vốn là một chúng sanh ưu việt, có rất nhiều tiềm năng phi thường, nếu chúng ta khéo triển khai, thì không gì không thể thực hiện được trên cõi đời này. Như vậy, ta có thể nói rằng: Phật giáo là đạo của con người, xuất phát từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài là một đấng giác ngộ nhưng Ngài chính là một con người, Ngài đã cất tiếng nói và có một đời sống của con người, vì con người mà Ngài khai thị Chân lý, hướng dẫn con người đi đến cuộc sống thực sự an vui, hạnh phúc. 

                    4. Tính bình đẳng

Chúng ta biết rằng, Phật giáo đã ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng phức tạp của một đất nước, mà trong đó đời sống con người phải chịu nhiều bất công, trong một xã hội phân chia bốn giai cấp lâu đời là Ấn Độ như đã nói ở phần trên. Để minh chứng cho đặc tính này của Phật giáo, chúng ta thấy rằng, trong suốt 49 năm hoằng hóa độ sanh, giáo pháp của Đức Như Lai đã đến với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đương thời. Từ giai cấp vua chúa như Tần-bà-sa-la, A-xà-thế, Ba-tư-nặc; cho đến các vị đại thần; rồi giai cấp Bà Bà-la-môn như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên; hay cùng đinh cực khổ như Ưu-ba-li; cùng hung cực ác như Ương-quật-ma-la; hành nghề hạ tiện như Liên-hoa-sắc.v.v… đều được thấm nhuần trong giáo pháp của Như Lai.

5. Tinh thần tự lực

Thực tế, tất cả mọi thành tựu khoa học kỹ thuật, vật dụng ta đang sử dụng đều do bàn tay, khối óc, tài năng của con người làm ra. Phương Tây có câu nói: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Ông bà ta cũng thường nói:

 

“Có làm thì mới có ăn,

Không dưng ai dễ bưng phần tới cho”.

Và trong các truyện cổ tích thì ai siêng, hiền mới được tiên giúp. Trong các pháp môn tu tập, dù là pháp môn gì đi nữa thì tự lực luôn là yếu tố đầu tiên để có được kết quả. Đây cũng là thể hiện tính công bằng, tính chân lí.

Đức Phật kêu gọi chúng ta: “Hãy trở về nương tựa mình và nương tựa pháp”. Khái niệm trở về - tiếng gọi đầu tiên trong bức thông điệp của thời đại mới. Ðó là sự quay đầu trở lại, trước hết là với con người của chính mình và tâm thức của chính mình; và sau đó là trở lại với con đường Chánh pháp (nương tựa Pháp).

Sự trở về ở đây, trước hết là trở về với mọi trách nhiệm luân lý đạo đức, mọi trách nhiệm trong cuộc sống tư duy và hành động, trong cách ứng xử giữa tự thân và tha nhân, giữa cá nhân và xã hội của mỗi con người, bởi vì sẽ không có bất kỳ một động lực tự nhiên hay siêu nhiên nào có thể ngự trị trong dòng sinh tử luân lưu, ngoài trừ định luật nhân quả.

Trên một bình diện cao hơn, Ðức Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật”. Nghĩa là cái hạt giống giác ngộ hay cái năng lực giác ngộ là năng lực tiềm ẩn, vốn có trong tâm thức của mọi chúng sinh. Do đó, trở về nương tựa mình chính là trở về với khả năng giác ngộ mà bao lâu con người đã lãng quên. Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc và chân lý, con người luôn luôn đóng vai trò trung tâm. Nghĩa là, khổ đau hay hạnh phúc là tùy thuộc ở cái nhìn của mỗi con người khác nhau. Nhưng quan trọng hơn hết, cội nguồn của hạnh phúc phải được khai phóng từ nguồn lực chính bản thân mỗi người, tức là từ trong chiều sâu tâm thức của mỗi người, ta không thể cho nhau, và không thể vay mượn của nhau.

Thực tế cho thấy rằng, đời sống của con người do không làm chủ được dòng vận hành của tâm thức, thân thể, môi trường vv... nên thường xuyên đối diện với những bất an, lo lắng, hy vọng và sợ hãi. Cho đến khi nào con người còn tìm kiếm hay nương tựa vào một nơi trú ẩn nào khác ngoài mình thì khi đó đối tượng của sự bất an vẫn luôn luôn hiện hữu trong dòng sông tâm thức. Càng không làm chủ thì càng bị dao động. Càng bị dao động thì càng thao thức, lo lắng, hoặc hy vọng, hoặc sợ hãi.

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng đó là yếu tố Chánh pháp. Vì như đã đề cập, mặc dầu con người cũng như tất cả chúng sinh đều có khả năng thức tỉnh- giác ngộ. Song, do tính chất lầm lỗi (vô minh) và bất toàn nên cần phải được soi sáng bởi Chánh pháp trong tư duy và hành động. Bấy giờ, Pháp đóng vai trò là con đường dẫn vào Ðạo. Và Pháp ở đây được cụ thể hóa như là đời sống gồm ba yếu tố căn bản là: Giới - Định - Tuệ.

Nói tóm lại, trên căn bản của đời sống, con người cần phải làm chủ được hay ít ra là điều hành được cuộc sống tâm lý và vật lý của chính mình. Và xa hơn, trên con đường đi đến giác ngộ, mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi, như lời Ðức Phật dạy:“Ngươi phải làm công việc của ngươi, vì Như Lai chỉ chỉ dạy con đường”. Hoặc là: Ngươi là nơi nương tựa của chính ngươi, không ai khác có thể là nơi nương tựa. Ðây chính là bức thông điệp của thời đại mới, một bức thông điệp không tiền khoáng hậu trong lịch sử Tôn giáo và triết học Ðông Phương mà cách đây trên 26 thế kỷ, Ðức Phật đã truyền trao cho loài người.

                    6. Tinh thần Từ - Bi - Hỷ - Xả

Chúng sanh còn khổ thì Đạo Phật còn vai trò và vị trí ở cuộc đời; Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Ở đâu có Đạo Phật, ở đó có tình thương, ở đó hận thù được hóa giải. Bởi lẽ, phương châm tu tập của Phật giáo là từ, bi, hỷ, xả, còn gọi là Tứ vô lượng tâm. Người Phật tử lấy từ, bi, hỷ, xả làm nền tảng cho sự phát triển Thánh hạnh; tâm từ bi được coi là tâm Phật.

Tâm Từ là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân. Tâm Bi là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm Hỷ là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm Xả là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Đức Phật dạy người Phật tử tu tập Tứ vô lượng tâm: "Vị ấy tâm an trú biến mãn một phương cho đến mười phương với tâm từ, bi, hỷ, xả quảng đại vô biên, không hận, không sân... đối với mọi hình thức của sự sống, không bỏ qua và bỏ sót một ai mà không biến mãn với tâm giải thoát cùng với từ, bi, hỷ, xả ".(Trường Bộ I)

Lòng Từ bi trong Đạo Phật không chỉ dừng lại ở đối tượng là con người mà bao trùm cả muôn loài chúng sanh. Thương yêu đồng loại và vạn loại chúng sanh là chất liệu sống của đạo Phật.

                   7. Tinh thần thực tiễn

Một trong những định nghĩa về pháp là "thiết thực hiện tại", nghĩa là giáo lý Đạo Phật là thiết thực, không mơ hồ, mang tính thực tiễn, có tác dụng cụ thể, không phải lý thuyết suông. "Hiện tại" có nghĩa là không chờ đợi kết quả của tương lai, có tu tập là có hướng thượng, có giải thoát ngay hiện tại, đời này. Vì vậy, giáo lý Đạo Phật là giáo lý thực nghiệm, không chờ đợi một ân sủng hay một mặc khải nào.

Đạo Phật cho rằng phần lớn những nỗi khổ của con người do họ không sống thật với hiện tại, họ thường nuối tiếc quá khứ, mơ tưởng tương lai; do đó, ý nghĩa của cuộc đời bị đánh mất:

"Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua
Nên kẻ ngu héo mòn
Như lau xanh lìa cành"
(Tương Ưng I)

Hoặc:

"Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại..."
(Kinh Trung Bộ)

Đọc lịch sử Đức Phật, trước khi thành đạo, Ngài trải qua năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh, điều này thể hiện tinh thần yêu sự giải thoát, tìm chân lí. Đi theo Phật là đi theo con đường thể nghiệm. Thể nghiệm theo lời dạy của Ngài. Giáo lý Phật Đà không phải là giáo lí suông, không thể nghiệm thì không thể sáng tỏ, mà chúng ta phải bắt tay vào thể nghiệm mới có được an lạc. “Học đi đôi với hành”. Đây là đặc tính nữa của Đạo Phật.

                       8. Tinh thần không chấp thủ (Vô ngã)

Có câu nói:

“Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió.

Buông thuyền lúc khách đã sang sông”.

Đạo Phật là giải thoát và tự do; vướng mắc vào bất cứ điều gì cũng đều đưa đến đau khổ. Các pháp là do duyên sinh, nên chúng biến đổi không ngừng, Đức Phật dạy: "Cuộc đời là vô thường, nên nó đem đến đau khổ (vì chấp là thường). Cái vô thường mà ta cho là của ta, là ta thì hoàn toàn không hợp lý". Ngài dạy trong Kinh Pháp Cú 62:

“Con ta tài sản ta

Người ngu sanh ưu não

Cái ta còn không có

Con đâu tài sản đâu”.

Như vậy, con người và vạn pháp không cái nào là thật có, kinh Lăng Nghiêm dạy:“Nhân duyên hòa hợp hư vọng hữu sanh, nhân duyên biệt ly hư vọng hữu diệt”. Nhân duyên hòa hợp thì giả dối có sanh, nhân duyên chia rẽ thì giả dối có diệt, nên có lời thơ:

Tôi hỏi tôi thưa tôi là ai đó,

Thiệt thà tôi đáp cát bụi gió mây.

Nhờ tinh thần không chấp thủ nên thái độ của Đạo Phật rộng rãi, bao dung, tinh thần tu tập của người Phật tử rất thoáng. Kinh Ví dụ con rắn (Trung Bộ), Đức Phật ví dụ giáo pháp như chiếc bè để qua sông, không phải để nắm giữ; chánh pháp như chiếc bè, chánh pháp cũng phải xả huống là phi pháp. Tương tự, kinh Kim Cang cũng nói: "Giáo lý như phiệt dụ giả chánh pháp thương ưng xả hà huống phi pháp", hoặc nói: "Cái gọi là Phật pháp tức chẳng phải là Phật pháp nên gọi là Phật pháp".

Tinh thần không chấp thủ là nội dung trí tuệ của Đạo Phật; tác dụng của tinh thần ấy ngoài sự đem đến giải thoát, còn đem đến sự giải tỏa tất cả mọi áp lực, ức chế của đời sống lên trên tâm lý của con người. Đây là một đặc tính của Phật.

You're writing reply to: Cancel     C. KẾT LUẬN

Qua quá trình tìm hiểu về giáo lý của Đạo Phật, ta có thể khẳng định rằng Đạo Phật không phải là đạo của tôn giáo thần quyền hay mang tính lý luận suông. Đạo Phật cũng không như những thần linh ban phước giáng họa, vì Đức Phật không bao giờ chở che cho những sự lỗi lầm mê mờ, tham dục sợ hãi... mà Đức Thế Tôn chỉ là người chỉ đường cho người lạc lối hướng đến con đường giác ngộ bằng cách tự thấu triệt để chọn lối đi đúng đắn hơn. Nên Đạo Phật là con đường, là phương pháp đưa con người đạt được mục đích giác ngộ tối thượng.

Điều căn bản cốt lõi Đạo Phật là một phương pháp sống để đạt được hạnh phúc an lạc có thật trong đời này. Đó là hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này không phát sanh từ tài sản, quyền lực hay danh vọng mà tất cả đều phát xuất từ lòng từ bi và sự hiểu biết chân thật của chính mình. Đó chính là quay lại nhìn thấy cội nguồn an lạc nơi tâm mình, vì theo lời kinh Pháp Cú dạy: “không có hạnh phúc nào bằng sự an tỉnh tâm hồn”.

Đạo Phật chính là Đạo của giác ngộ giải thoát mà sự giải thoát đó phải dựa trên nền tảng chánh niệm tỉnh thức. Con người phải xác định rằng mọi khổ đau phiền muộn của cuộc đời đều do tự mình chuốc lấy, muốn thoát ly cần phải cương quyết diệt trừ tất cả nguyên nhân gay ra đau khổ.

Dù trải qua thời gian hơn 25 thế kỷ, dù thời đại khoa học phát triển đến đâu đi nữa thì Đạo Phật vẫn tồn tại và làm chỗ nương tựa cần thiết cho nhân loại. Ngày nay, Đạo Phật vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc soi sáng chân tâm mỗi con người, chuyển hóa những khổ đau, xây dựng gia đình và cải thiện xã hội ngày càng văn minh, hạnh phúc, an lạc.

“Đạo Phật đi vào đời,

Ánh sáng tỏa khắp nơi

Xua tan màn đêm tối

Sưởi ấm cho mọi người.”

Đức Phật có những đức tánh Từ, Bi, Hỷ, Xả, Hoan hỷ, Tinh tấn, Thanh tịnh... Chúng ta là người đệ tử phật, cũng phải cố gắng thực hiện cho được những đức tánh ấy. Có như thế ta mới tạo được an lạc cho mình và cho những người xung quanh, đáp đền một phần nào ân đức sâu dày của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni và chư vị tiền bối, để rồi:

“Từ đây cõi Thánh bước lần

Bồ Đề thêm lớn muôn phần cao xa

Được vào trong pháp vương gia

Đủ duyên đủ phước nghe qua pháp mầu.”

 

BÀI 2

A. DẪN NHẬP

 Đạo Phật đã tạo nên nền văn hóa nhân bản theo tinh thần của xã hội Á Đông hơn 2608 năm qua, đã và đang chinh phục toàn cầu một cách nhẹ nhàng, đầy tính cảm hóa. Các học giả trên thế giới nghiên cứu Phật Pháp rất nhiều, càng nghiên cứu họ càng khâm phục Đức Phật, vì họ nhận ra Đạo Phật rất khoa học và thực tiễn. Đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh ở Phương Tây. Sau này, nhà bác học thiên tài Albert Einstein (1879- 1955) phát biểu: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên, trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó.”  “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học(Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Và hiện nay, trong các tác phẩm văn học của các học giả (kể cả các vị theo các tôn giáo khác) thường mang âm hưởng tư tưởng Phật Giáo. Trong đó, có các tác phẩm bán chạy nhất mọi lúc như: “How to Win Friends and Influence People” (Đắc Nhân Tâm), “How to Stop Worrying and Start Living” (Quẳng gánh lo đi và vui sống) của Dale Carnegie, “7 Habits of Highly Effective People” (7 Thói Quen Để Thành Đạt) của Stephen R. Covey và các tác phẩm trong tủ sách học làm người nói chung như “Hạt Giống Tâm Hồn”, “Tâm Hồn Rộng Mở”… Vậy Đạo Phật có gì đặc biệt mà có tầm ảnh hưởng đến vậy?

B. NỘI DUNG

       I.  ĐỊNH NGHĨA                                            

 Đạo: chữ đạo trong Đạo Phật nghĩa là con đường chân chánh đúng đắn nhất. Là chân lý, là bản thể chân như, lý tánh tuyệt đối.(HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Quyển I, THPGTPHCM ấn hành, năm 1997, trang 14)

Phật: tiếng Phạn là Buddha. Trung Hoa dịch là Giác Giả. Nghĩa là người đã giác ngộ, còn gọi là người tỉnh thức. Người đã tận diệt tham, sân, si với đầy đủ công hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

Tự giác: là tự mình giác ngộ được chân lý.

Giác tha: đem sự giác ngộ mình có được cứu giúp chúng sanh.

Giác hạnh viên mãn: công hạnh lợi ích chúng sanh được tròn đầy.

Đạo Phật: là con đường chân chánh, hoàn toàn sáng suốt, giúp cho chúng sanh thoát khỏi mọi đau khổ, được an vui, hướng đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt Niết Bàn. (Niết – Bàn: là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham, sân và si. Đồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của nghiệp (zh. , sa. karma, pi. kamma), không còn chịu quy luật nhân duyên (duyên khởi), Vô vi (zh. 無爲, sa. asaṃkṛta), đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt. Trưởng lão tăng kệ, ghi. (http://vi.wipedia.org/wiki/Niết Bàn))

Nhưng thông thường khi nói đến Đạo người ta nghĩ ngay đến một tôn giáo như Đạo Chúa, Đạo Hồi…Vậy Đạo Phật có phải là một tôn giáo không? 

Dưới một vài khía cạnh, Đạo Phật rất giống như một “tôn giáo” vì cũng chủ trương sự sùng kính, nghi lễ, kinh kệ, có chùa chiền, tượng ảnh và “đức tin”… Thế nhưng, nếu như từ Tôn giáo “religion” được hiểu là “niềm tin vào cái siêu nhiên” thì Đạo Phật không phải là Tôn giáo. Vì Đạo Phật không có “đức tin” mù quáng vào một đối tượng siêu nhiên nào, và Đức Phật cũng không phải là một vị thần linh như giáo chủ của các Tôn giáo khác. Đây là điều vô cùng đặc biệt của Đạo Phật. Đạo Phật hay Phật giáo chính là phương cách sống hướng đến sự an vui, hạnh phúc.

      II. NGUỒN GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

             1. Phương diện bản thể

Đứng về phương diện bản thể thì “Đạo Phật” có từ vô thỉ. Nghĩa là không có đầu mối, không có giới hạn thời gian. Vì Đạo Phật là bản tánh sáng suốt của chúng sanh, nên có chúng sanh là có Đạo Phật. Và chúng sanh có từ vô thỉ nên Đạo Phật cũng có từ vô thỉ.

             2. Phương diện lịch sử

Đứng về phương diện lịch sử, Đạo Phật đã có từ trên 2500 năm (tính theo năm Phật Lịch). Trước Thiên Chúa giáo 544 năm.(HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Quyển I, THPGTPHCM ấn hành, năm 1997, trang 17) Người sáng lập ra Đạo Phật là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài đản sanh vào ngày 15 tháng 4 năm 624 trước công nguyên, tại thành Ca-tỳ-la-vệ, vườn Lâm-tỳ-ni. Nay thuộc nước Nepal phía Đông Bắc Ấn Độ.

Ngài là thái tử con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-gia, tên là Tất Đạt Đa thuộc dòng dõi Thích Ca. Trước khi tu đạo và thành Phật, Ngài đã thành lập gia đình với công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara) và có một người con trai tên là La-hầu-la (Rahula). (GHPGVN, Ban Hoằng Pháp Trung Ương, Phật Học Cơ Bản, NXB Tôn giáo Hà Nội, 2008, trang 43)

Mặc dù là thái tử của một nước và được quyền thừa kế ngai vàng trong tương lai, tuy nhiên, thái tử không tham đắm hưởng thụ. Sau khi du ngoạn bốn cửa thành, nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết; cảnh tương tàn tương sát của mọi loài, thức ăn của loài này là sinh mạng của loài kia, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ…  Với tâm từ bi rộng lớn vô lượng, thế là Ngài quyết định ra đi tìm cầu chân lý giải thoát cứu khổ cho muôn loài.

Trãi qua 5 năm tầm đạo, 6 năm tu khổ hạnh, Ngài học đạo với nhiều vị thầy như A-la-lam, Uất-Đầu-Lam-Phất… Kết quả là chứng được cảnh giới của Tứ thiền, tức từ sơ thiền đến phi tưởng phi phi tưởng định. Tuy nhiên, dù chứng được cảnh giới cao nhất ở cõi thiền này nhưng con người vẫn còn phan duyên, chưa dứt được tâm nhiễm trước, nghĩa là còn ô nhiễm nên còn triền phược chưa thể đạt đến cứu cánh giải thoát. Nhận thấy chưa thể thỏa mãn được ý nguyện của mình nên Ngài đã đi đến cội cây Tất-bát-la (Bồ Đề), trên một phiếm đá như kim cang toạ, Ngài tiên quyết minh thệ: “Dù cho thịt nát xương tan, nếu không tìm ra chân lý giác ngộ giải thoát, ta quyết không rời khỏi chổ ngồi này!” (Thích Minh Tuệ, Phật Và Thánh chúng, NXB Tôn giáo Hà Nội, 2009, trang 55.)  

Trải qua 49 ngày đêm tư duy thiền định, chánh niệm, tỉnh giác, ly dục, đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền, sau đó hướng đến Tam Minh. Với trực giác, Ngài thấy rõ nguyên nhân của khổ chính do sự tập khởi của 12 nhân duyên, là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn. Vào lúc canh một, khi ánh sao bắt đầu lấp lánh Ngài chứng được “Thiên nhãn minh”, thấy rõ mối liên hệ vận hành của vạn vật vũ trụ một cách rất trật tự theo chiều thuận nghịch của 12 nhân duyên sinh diệt như người nhìn rõ những lằn chỉ trong lòng bàn tay. Đến canh hai, Ngài chứng được “Túc mạng minh”, thấy rõ trong vô lượng kiếp quá khứ của mình đến từng chi tiết nhỏ và thấy cả con đường thọ nghiệp của tất cả chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả của họ; như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy dòng người ngược xuôi qua lại. Qua canh ba, khi sao mai bắt đầu ló dạng, Ngài như thật tri kiến và đã diệt tận kiến tư hoặc, trần sa hoặc, chứng được “Lậu tận minh”. Sau cùng, Ngài chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành vị Phật đầu tiên trong hiện kiếp với danh hiệu Đức Phật Gotama (Cồ Đàm), hay Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế gian. (GHPGVN, Ban Hoằng Pháp Trung Ương, Phật Học Cơ Bản, NXB Tôn giáo Hà Nội, 2008, trang 53.

      III. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG

Mục đích của Đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ của chúng sanh. Kinh Trung Bộ I Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói lên sự khổ và con đường diệt khổ”. (HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bô I, VNCPHVN, 1992,Trang 23.). Thật vậy, giáo lý ấy được thể hiện xuyên suốt qua các nội dung:

                1. Tứ diệu đế

“Khổ” là một sự thật của con người mà không ai có thể tránh khỏi (Khổ Đế). Đạo Phật chỉ ra sự thật khổ của cuộc đời không phải để ta thất vọng mà để ta phải đối diện với sự thật khổ mà ta đã không tin từ trước.

 Một khi đã chấp nhận “đời là khổ” ta sẽ bớt đòi hỏi ở cuộc đời, sẽ biết yêu thương và lo lắng cho cuộc đời nhiều hơn. Cũng như người biết quê hương mình nghèo khổ nên biết lo lắng và yêu thương quê hương mình hơn.

Con người cần phải nhận diện khổ là một sự thật không thể chối bỏ (Khổ Đế). Biết khổ phải tìm nguyên nhân sanh ra nó, tức là mười thứ căn bản phiền não chi phối và đưa chúng sanh trôi lăn trong ba cõi sáu đường (Tập Đế). Khi biết nguyên nhân của khổ thì phải diệt trừ hoặc chuyển hoá chúng để hết khổ, được an vui giải thoát (Diệt Đế). Tuy nhiên, muốn hết khổ để được an vui thì phải có phương pháp tu tập hành trì tức là Đạo Đế, tức đi theo con đường của theo 37 phẩm trợ đạo, nói gọn là Bát Chánh Đạo vậy (Đạo Đế).

      2. Nhân quả - nghiệp báo

Đạo Phật không phải là đạo nghèo nàn ít kiến thức, mà là một đạo có trí tuệ. Người tu tập theo Đạo Phật, biết rằng mọi vấn đề đều có nguyên nhân của nó, tức là mọi sự vật hình thành hay tồn tại đều do duyên sanh; tin sâu giáo lý nhân quả nghiệp báo. Con người hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình tự tạo ra cho mình, không có có quyền thưởng phạt. Do đó, chúng ta muốn có cuộc sống an vui tốt lành thì phải dứt trừ những nguyên nhân dẫn đến khổ và biết gieo tạo những nhân duyên tốt lành.

  Với cái nhìn của Phật nhãn “Hết thảy chúng sanh đều là kết quả của nghiệp”. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc mà từ đó chúng sanh được sinh ra. (HT. Thích Minh Châu, dịch, Trung Bộ III, NXB Tôn giáo, 1996, trang 481.)

Từ ý nghĩa trên luôn nhắc nhở chúng ta “Phàm làm việc gì, trước hãy nghĩ đến hậu quả của nó”. Do đó, cần phải tránh xa các điều ác để không thọ quả báo xấu. Siêng làm các việc lành nhằm đem lại lợi ích an vui cho mình và người.

               3. Vô thường

Thế gian vô thường, đó là sự thật. Tất cả mọi sự vật hiện tượng từ vật vật nhỏ như hạt bụi, đến vật lớn như sơn hà đại địa đều không ở yên trong một trạng thái nhất định, mà nó luôn thay hình đổi dạng. Nhờ ý thức sự vô thường nên chúng ta dễ dàng chấp nhận những đổi thay mỗi khi bị mất mát, ít đau khổ và ít tức giận, dễ dàng thông cảm. Tuỳ thuận chúng sanh, dễ dàng sống hòa hợp với các tư tưởng khác.

Điều khôn ngoan hơn là khi hiểu được định luật vô thường, chúng ta sẽ sống với tâm thiện chí nhiều hơn. Đó là chẩn bị cho mình một hạnh phúc lâu dài vì đã không gây ra nhân đau thương và thù hận với chúng sanh.

               4. Luân hồi

Quy luật của vũ trụ là “Thành, trụ, hoại, không”. Quy luật của con người cũng không ngoài “sinh, trụ, dị, diệt”. Thế nên, thuyết luân hồi trong Đạo Phật nhằm giúp cho con người không sợ hải cái chết, vì chết là một dấu chấm trên đoạn đường dài của sanh tử luân hồi. Và như thế, chúng ta có thể chủ động được nơi tái sanh, đặc biệt là biết tu tập để thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ đau.

                5. Duyên khởi và vô ngã

Tất cả các pháp đều không ngoài  nhân duyên sanh diệt. Trong Tiểu bộ Kinh Đức Phật dạy:

Do cái này có, nên cái kia có

Do cái này không, nên cái kia không

Do cái này sinh, nên cái kia sinh

Do cái này diệt, nên cái kia diệt.
(Thích Minh Châu, dịch, (1997), Tiểu Bộ I, Kinh Phật Tự Thuyết, VNCPHVN, ấn hành tr 291.)

Thật vậy, các pháp vì là duyên khởi nên không có tự tính, vì không có tự tính cho nên vô ngã. Vì “Vô ngã” nên không có cái nào là “Ta” là “Tự ngã của Ta”. Từ đó, không tham ái, không chấp thủ, không vướng mắc vào sự việc. Do biết sống tùy duyên nên được an lạc giải thoát.

Khi nói về vô ngã thì phần nhiều con người ít tin tưởng vào điều này, bởi họ luôn chấp có một tự ngã cố định, trường tồn. Sự thật “Vô ngã” càng khó tin hơn chuyện ngày xưa khi ông Galileo tuyên bố với đức Giáo Hoàng về sự thật “quả đất xoay quanh mặt trời” chứ không phải “mặt trời xoay quanh quả đất”.

Điều tuyệt vời nữa của Đạo Phật là nhờ “Duyên sinh - Vô ngã” nên con người có thể tu tập, có thể cải tạo, có thể chuyển đổi từ si mê trở thành trí tuệ, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ ác sang thiện, từ tính ích kỷ - tình thương nhỏ hẹp, có thể trở thành người cao thượng, người có tâm hồn vị tha, có tình thương lớn. Chính vì Đạo Phật luôn chú trọng đến tình thương yêu vạn loại chúng sanh nên đã có lịch sử tồn tại khá lâu và có một giá trị bất hủ trong lòng nhân loại.

Hoặc như có thể nói một cách ngắn gọn, nội dung giáo lý của Đạo Phật đều không ngoài “Giới - Định - Tuệ”.

- Giới: Có công năng là “Phòng phi chỉ ác” hay “Chỉ ác tác thiện”, là con đường giúp cho con người ngăn ngừa ba nghiệp “Thân, khẩu, ý” không làm các việc ác, đồng thời thành tựu các hạnh lành.

- Định: là tâm lắng yên. Nghĩa là không để cho tâm chạy theo những vọng tưởng phiền não, trần cảnh bên ngoài nên tâm được thanh tịnh.

- Tuệ: là khả năng sáng suốt, nhận biết đúng đắn, chuyển hoá khổ đau, đạt đến sự an lạc giác ngộ giải thoát. Đem lại lợi ích cho mình và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Ví như tất cả nước trong đại dương đều có chung một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, tất cả giáo pháp của Đạo Phật đều có chung một vị, đó là vị giải thoát. Do vậy, các pháp môn tu tập đều hướng đến quả vị giải thoát an vui.

     IV. GIÁO LÝ CỦA ĐẠO PHẬT

Giáo lý của đạo Phật chính là Tam Tạng Thánh điển: Kinh- Luật- Luận. Kinh là những lời dạy của Đức Phật đã nói khi còn tại thế để dạy chúng sanh dứt trừ phiền não, đạt được an lạc giải thoát, như Kinh Pháp Hoa, Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư…Luật là những điều răn cấm mà Đức Phật chế ra cho các đệ tử tu tập nhằm ngăn chặn điều xấu, phát triển điều lành, giữ gìn tâm ý thanh tịnh như Ngũ Giới, Thập Giới…Luận là những sách do các đệ tử của Phật viết ra để bàn giải rõ ràng nghĩa lý nhiệm màu trong Kinh và Luật.

     V. TÔN CHỈ CỦA ĐẠO PHẬT

Vì trong hệ thống giáo lý của Đạo Phật luôn mang nét từ bi, trí tuệ, thực tiễn, bình đẳng, nhân bản nên luôn đáp ứng được các nhu cầu của xã hội và vượt lên cả khoa học hiện đại, nên luôn được các bậc trí giả ngưỡng mộ, kính phục.

              1. Từ Bi

           Từ Bi là một thành tố không thể thiếu trong Đạo Phật, suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển, Đạo Phật đi đến đâu là an lạc đến đó, không hề có cảnh máu đổ thịt rơi trong quá trình truyền bá chánh pháp. Tâm Từ là khả năng hiến tặng niềm vui cho người, tâm Bi là khả năng làm vơi đi nỗi thống khổ đang có mặt trong nhân loại. Đức Phật đã chuyển đổi nghi thức giết thú để tế lễ thần linh, và khuyên hàng đệ tử nên mở rộng tâm Từ đến tất cả chúng sanh, từ con người cho đến côn trùng nhỏ bé. Đức Phật dạy là không ai có quyền tiêu diệt mạng sống của kẻ khác, vì tất cả mọi người đều quí trọng mạng sống của mình. Khi có tâm từ bi thì chúng ta luôn thể hiện tinh thần cảm thông, tha thứ, khoan dung cho nhau. Tâm Từ Bi có đủ năng lực dập tắt ngọn lửa sân hận, thù hằn, như đức phật đã dạy trong Kinh Pháp Cú, kệ số 5:

“Hận thù diệt hận thù

Đời này không có được

Không hận diệt hận thù

Là định luật ngàn thu”

          Hoặc có câu nói:

“Lấy oán báo oán, oán kia chồng chất

Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan.”

             2. Trí Tuệ

Đạo Phật không chỉ là Đạo Từ Bi mà còn là Đạo Trí Tuệ. Đạo Phật không phải đến để mà tin mà phải đến để mà thấy. Đến với Đạo Phật không phải bằng niềm tin mù quáng, vì Đức Phật dạy: "Đừng vội tin điều gì chỉ vì nghe người khác nói lại. Đừng vội tin điều gì chỉ vì tập tục cổ phong truyền lại như thế. Đừng vội tin điều gì chỉ vì có lời đồn đãi như vậy. Đừng vội tin điều gì chỉ vì điều ấy đã được ghi trong kinh sách. Đừng vội tin điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra điều nầy ta đã được kính trọng từ trước.v.v… Hãy tin vào những điều hợp với luân lý, những điều nầy không đáng bị khiển trách, những điều nầy được các bậc thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện những điều nầy sẽ được an vui hạnh phúc - thì hẳn ông phải thực hành đúng như vậy." (Tăng Chi Bộ Kinh, tập 1. HT. Thích Minh Châu (dịch), tr.188-193.)

          Đồng thời, với tinh thần không chấp thủ do thấy rõ vạn pháp là vô thường, vô ngã, là do duyên sanh. Đây chính là thể hiện Trí Tuệ tuyệt vời của Đạo Phật vậy.

  3. Nhân Bản

          Giáo Tổ của Đạo Phật không phải là một vị Thần Linh, cũng không phải là một vị Thượng Đế có uy quyền thưởng phạt, mà là một con người thật sự như bao con người khác. Đức Phật khẳng định, chỉ có con người là một chúng sanh hội đủ điều kiện tốt nhất để tu tập, thọ trì giáo pháp, chứng đắc Niết Bàn. Rõ ràng rằng, con người chính là chủ nhân của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Cho nên, chính tự con người xây dựng cho mình một đời sống hạnh phúc hay đau khổ chứ không hề có vị thần linh nào khác. Điều đó được Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, kệ số 165 như sau:

“Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh

Tịnh, không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh ai.”

          Hơn nữa, Đạo Phật còn đề cao đến những trường hợp khi không có Đức Phật ra đời, bất cứ ai biết tự vận dụng triệt để ý chí và khả năng để quán chiếu về lý duyên sanh của vạn pháp thì vẫn có thể giác ngộ và được xưng là Bích Chi Phật, điều này cho thấy tính nhân bản sâu sắc của Đạo Phật.

          4. Bình đẳng

           Ngay trong buổi hoàng hôn tăm tối của xã hội Ấn Độ phân chia giai cấp thời bấy giờ, Đức Phật đã thị hiện như một nhà cách mạng tư tưởng vĩ đại, gióng lên tiếng chuông phá tan bóng đêm của xiềng xích nô lệ và bao điều bất công, với một châm ngôn vĩ đại bất hủ với thời gian đó là: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”. Đức Phật đã xác định rõ ràng rằng:

             “Là cùng đinh, không phải do sanh trưởng

               Là Bà la môn, không phải do sanh trưởng

               Do hành động, người này là cùng đinh

               Do hành động, ngươi kia là Bà la môn”.

Đức Phật cho phép thành lập đoàn thể nữ giới đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Đây chính là tiếng nói nhân bản, dân chủ, bình đẳng nhất, sớm nhất trần gian, giải phóng nữ giới ra khỏi ràng buộc và tối tăm của cuộc sống, bị đè nặng bởi các văn hóa chậm tiến. Hơn thế nữa, Đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Có thể nói, đây là nền tảng để hình thành tính bình đẳng triệt để trong đạo đức luân lý Phật giáo. Không có một Tôn giáo nào mà tín đồ có thể đi đến quả vị của bậc giáo chủ như Đạo Phật, chúng ta thấy như Ki Tô giáo, Do Thái giáo… thì con chiên sẽ mãi là kẻ tôi tớ của Chúa mà thôi.

            5. Thực tiễn

          Nền giáo lý Phật Đà đề cập đến những chân lý và những sự kiện mà mọi người đều có thể trắc nghiệm và kiểm chứng xuyên qua kinh nghiệm bản thân. Cụ thể hơn nữa, Phật giáo tập trung vào những vấn đề thực tiễn của con người, cách hướng dẫn cuộc sống, cách điều hòa thân tâm và tạo một đời sống an bình hạnh phúc cho con người. Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh những vấn đề mang tính thực nghiệm và khả thi trong hiện tại hơn là những quan điểm mang tính luận lý, xa rời thực tế. Trong kinh A Nan Nhất Dạ Hiền ghi:

                   “Quá khứ không truy tìm

                     Tương lai không ước vọng

                     Quá khứ đã đoạn tận

                     Tương lai lại chưa đến                   

                     Chỉ có pháp hiện tại

                     Tuệ quán chính là đây”.

VI. ĐẠO PHẬT VỚI ĐỜI SỐNG NHÂN SINH

               1. Thực chất con người đối với Đạo Phật

Mỗi một thành viên hay người Phật tử khi đến với Phật giáo đều có một lối sống quay về với nội tâm thanh tịnh của mình, hay gọi là “Bản lai diện mục”. Nghĩa là quay về và sống với chính mình, quan sát mọi hành động trong từng lời nói việc làm và suy tư của mỗi con người. Thay vì đề cao thực thể cao siêu nào đó thì Phật giáo chủ trương vào vấn đề thực chất trong lối sống con người. Hay nói khác hơn, Đạo Phật đi vào lòng người với tư cách là thực nghiệm cho đời sống, không như những lý luận xa vời phi thực tế. Do đó, sự tín ngưỡng tôn sùng đạo Phật bằng sự tự nhận thức, nhận ra con đường có thể dẫn đến an lạc cho chính mình. Con người sống với sự tỉnh giác luôn luôn biết rõ tâm mình, ý thức trong mọi hành động Phật dạy rằng “Chiến thắng ngàn quân địch không bằng tự thắng mình. Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

Nhờ ta tự chế ngự thân tâm mà tạo cho mình một lối sống tỉnh giác chánh niệm. Đó là tự làm cho mình tự thanh tịnh, và hẳn nhiên, không ai có thể làm cho mình trong sạch hay ô nhiễm cả. Nhờ giáo lý cao siêu nhiệm mầu của Như Lai mà ta sớm nhận được tánh giác, đây chính là con đường đưa đến giải thoát giác ngộ.

            2. Đạo Phật với thời đại đổi mới

Trong bối cảnh xã hội văn minh tiến triển, vì quá phát triển với những khoa học hiện đại, do đó mà con người với nhiều tham dục trụy lạc và rơi vào đam mê vật chất. Nhưng có mấy ai thỏa mãn, cuộc đời này là túi tham không đáy thì làm sao có thể thỏa mãn được nhu cầu mong muốn của con người. Nhờ giáo lý Đạo Phật giúp cho ta tự giác ngộ trong tham dục, ít muốn biết đủ đây là giải pháp giúp con người có thể xa lìa khổ đau. Hiểu được Đạo Phật là ta đã hiểu chính nơi tâm của mình, để rồi tự giải quyết vấn đề khúc mắc trong cuộc sống. Dù cho con người có chiều hướng đến tôn giáo hay vật chất của thế gian thì điều quan trọng hơn hết là phải tìm hiểu tâm lý của mình xem nó đổi thay hay đang suy tư về vấn đề gì. Cội nguồn của khổ đau cũng từ nơi tâm mà phát xuất, nếu biết từ nơi tâm mà phát xuất thì ta cũng từ nơi ấy mà tiêu diệt nó. Nếu như không ý thức được vấn đề này thì chỉ cần một khúc mắc nhỏ nhoi chúng ta cũng không thể vượt qua được. Do đó, dù thế giới có đổi thay, xã hội phồn hoa có vun bồi thêm cho tuyệt diệu nhưng giáo lý của Đạo Phật vẫn luôn như dòng suối mát rì rào chảy mãi xuyên suốt vào tâm hồn những ai đang muốn tìm đường giải thoát.

              3. Đạo Phật không bi quan yếm thế

Có nhiều người cho rằng giáo lý của Đạo Phật là chỉ nói đến cái khổ của cuộc đời, do đó họ khẳng định Đạo Phật là đạo bi quan yếm thế. Điều ấy rất đúng với những kẻ ngu mờ thiếu sáng suốt và không tìm hiểu sâu về giáo lý của Đạo Phật mà thôi. Đạo Phật cho rằng cuộc đời là khổ não, là vô thường, thân này do tứ đại hợp thành, do đó người tu theo Đạo Phật phải xem thân như huyễn hóa nhằm giúp con người không còn đắm nhiễm vào những điều hư ảo đó nữa, và sống biết đủ, biết tiết chế dục vọng để không còn đau khổ. Đạo Phật chỉ ra cái khổ, nhưng đồng thời chỉ cho con người biết rằng, ngoài những điều đau khổ đó còn có một cảnh giới an vui khác, nếu chúng ta biết tu tập thì sẽ diệt trừ sự đau khổ và đạt đến cảnh giới an vui ấy.

Dù thế sự có ra sao thì cũng mặc kệ, người hiểu được giáo lý của Đạo Phật và tu tập theo thì mới khỏi khổ đau và không còn ưu tư sầu muộn. Người có trí tuệ hiểu được lẽ thật của cuộc đời thì họ sẵn sàng dấn thân vì lợi ích nhân loại, vì lòng từ bi cao cả và sự đem lại lợi ích đến cho nhân sinh là điều thiết yếu.

Qua những lý do ấy mà ta có quyền khẳng định rằng, đời là bể khổ trầm luân, thân là thân giả tạm, do đó, con người cần phải sáng suốt nhận rõ thực hư của cuộc sống, dục lạc của thế gian vui ít khổ nhiều và không đem lại lợi ích cho con người. Vì thế, điều này không phải là quan niệm bi quan yếm thế mà là tinh thần tích cực cần thiết cho người đến với Đạo Phật.

             4. Đạo Phật là lẽ sống tự nhiên của con người

Đến với Đạo Phật là không phải đến với cuộc đời chán sống bi quan, mà đến với Đạo Phật là ta đến với lẽ sống tự nhiên của con người. Giáo lý của Đạo Phật vượt trên những hình thức khổ đau từ nơi ý chí của sự nhận biết vì mọi cái đều diễn ra trong trạng thái tự nhiên, đó là lẽ sống thường tình nếu nhận biết và hiểu thấu được nó thì chúng ta sẽ làm chủ được nó. Như ông Piyadasri cho rằng: “Đạo Phật là một lối sống, một phương thức tu tập có tính cách luân lý tri thức và tinh thần, có khả năng dẫn đến trạng thái siêu thoát.” Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng nói rằng: “Phật giáo không chỉ là thực nghiệm tâm linh mà lại còn là sự thể hiện trên cuộc sống những nguyên lý sinh động đạt tới do công trình khám phá thực tại của những thực nghiệm ấy”. Giáo lý của Đạo Phật tất cả đều cô đọng trong những lời giảng dạy của Đức Phật chỉ ra lẽ thực tự nhiên của cuộc sống dựa trên hình tướng của sự vật là nhơn quả, lẽ thật trong sự cấu tạo kết hợp là duyên sanh, lẽ thật thầm lặng trong bản thể là chân như hay Phật tánh. Người học Phật là tiến bước trên con đường giác ngộ, nhận hiểu phán xét lẽ thật mà Phật đã dạy, đem giáo lý của Ngài ứng dụng vào cuộc sống, tư duy một cách xác thực. Do vậy, chúng ta có thể xác định Đạo Phật là lẽ sống tự nhiên của con người.

     VII. ĐẠO PHẬT MANG TÍNH TOÀN CẦU

                 1. Tư tưởng bất bạo động

Thương yêu vạn loài chúng sanh là chất liệu sống của Đạo Phật, điều này đã trải qua hơn 25 thế kỷ. Ngày nay, khi con người sống trong thời đại văn minh, khoa học càng phát triển thì giá trị của Đạo Phật càng được vững chắc trong lòng mọi người. Vì sao?

Mặc dù tất cả các Tôn giáo đều ca ngợi tình thương, thế nhưng cho đến nay, ngoại trừ Phật giáo, tất cả các Tôn giáo khác đã từng có những cuộc thánh chiến đẫm máu. Dấu tích lịch sử còn ghi lại sự kiện khoảng thế kỷ 12, đạo Hồi đã tàn sát Chư Tăng và triệt phá các cơ sở giáo dục của Phật giáo trong các nước Nam Á, trong đó có Ấn Độ và Afghanistan.

Không chỉ vào thời quá khứ mà ngay trong thời hiện đại, thế giới còn được chứng kiến sự việc Đạo Phật bị khiêu khích, bị tấn công giữa thanh thiên bạch nhật. Vào ngày 4/3/2001, tại đất nước Afghanitan (hiện có gần 100% tín đồ Hồi giáo) trước đây là trung tâm Phật giáo trước khi đạo Hồi du nhập vào nước này từ thế kỷ thứ 8 hoặc thứ  9. Chính phủ Taliban vào ngày 4 tháng 3 năm 2001 đã ra lệnh dùng chất nổ hiện đại, nã pháo phá hủy 2 tượng Phật lớn nhất thế giới cao 53 mét và 36,5 mét, tạc vào núi đá có trên 2000 năm.

Lệnh này đến từ Mullah Mohammed Omar, lãnh tụ tối cao của Taliban, người ra một sắc lệnh rằng: các pho tượng kể cả các tượng Phật cổ là xúc phạm tới Hồi Giáo. "Bởi vì Thượng Đế chỉ có một, và các tượng này dựng lên để thờ phượng và thế là sai lầm. Các tượng cần bị phá hủy để không ai thờ phượng nữa, bây giờ và cả tương lai".  Bất kể lời kêu gọi, ngăn cản của Liên hiệp quốc.  (http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/sukien/023-phahuytuongPhat.htm)

Đối với Đạo Phật, hơn hai ngàn năm qua cho đến ngày nay, cả thế giới đều được chiêm ngưỡng tinh thần từ bi, yêu chuộng hòa bình được thể hiện qua sự bao dung vĩ đại và giáo lý của đạo Phật.

Đức Phật thường khuyên các đệ tử: “Này các Tỳ kheo!… nếu có chuyện bất hòa, chư vị phải ngồi xuống họp lại và cùng suy xét…chúng ta cương quyết không gây sự đánh nhau!” (H.W. Schumann, dịch giả Trần Phương Lan, Đức Phật Lịch Sử, NXB. TPHCM, 2000, tr. 282.). Ngài dạy:

"Chiến thắng gây hận thù

 Thất bại chuốc khổ đau

 Ai từ bỏ thắng bại

An tịnh liền theo sau"
(
HT. Thích Minh Châu, dịch, Tương Ưng I, ĐTKVN, năm 2001, tr 102.)

Do đó, người ta không hề thấy có sự trả thù của Phật giáo. Đó chính là nhờ vào giáo lý Đức Phật có một tình thương chân thật, nhờ tinh thần bao dung, không chấp thủ đã giúp cho tín đồ của Đạo Phật không oán hận trả thù, sống hòa bình dễ dàng hơn so với các Tôn giáo khác. Đây cũng chính là giá trị sống của Đạo Phật.

             2. Nhận định của các nhà trí thức

Nhờ vào những giá trị cống hiến, yêu chuộng hòa bình và một tình thương bất diệt dành cho nhân loại, nên năm 1999 đại lễ Phật Đản vừa được Liên hiệp quốc chính thức công bố là một trong những ngày lễ hội Tôn giáo của thế giới. 

Không những thế, tháng 10 năm 2009 đạo Phật được tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo và Tâm Linh đóng tại Geneva, Thụy Sĩ (ICARUS) đã quyết định bầu chọn  “Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới”.

Ông Hans Groehlichen, chủ tịch Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo và Tâm Linh (ICARUS) đã phát biểu trong hội thảo, cho biết rằng: Giải thưởng được thông qua do một hội đồng quốc tế, hơn 200 nhà lãnh đạo của 38 Tôn giáo khác nhau trên toàn cầu làm việc và đánh giá từng phần tâm linh về một Tôn giáo. Ông nói: “Thật là tuyệt vời khi chúng tôi cùng đưa ra một tiêu chuẩn, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo khác đã bình chọn Phật giáo. Phật giáo thực sự chỉ là một số ít trong hội đồng của chúng tôi, nhưng tôn giáo của họ thật tuyệt vời, hoàn toàn hấp dẫn và họ đã xứng đáng nhận giải thưởng vinh dự này.”

Ông Jonna Hult nhận xét: “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo tuyệt vời Nhất thế giới (Best Religion in the World),

Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O'Shaughnessy nói từ Belfast trước tổ chức Liên minh Thế giới:  “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử, đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh thánh, hay chưa. Rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác.” (Bài phóng sự của Tổ chức Liên minh Thế giới, Best Religion in the World, ra ngày 27-11-2009)

Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói (được thông ngôn dịch) rằng: “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.”

Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm: “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.”

Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu: “Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.” (http://tinnguongvietnam.wordpress.com/2011/05/26/icarus-bầu-chọn-một-ton-giao-vi-dại-nhất-thế-giới.)

Chúng ta hãy xem một số dẫn chứng cụ thể khác của các nhà trí thức lừng danh trên thế giới nói về Đạo Phật:

“Nếu vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật.”

                                                                           (Tổng thống Nehru)

“Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, vì Phật giáo bắt nguồn từ những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi”.

                                                                                     (GertrudeGaratt)

Hơn nữa, sự thành tựu vượt bậc của khoa học và sự tiến bộ của nhân loại đòi hỏi cần phải thẩm định lại những quan điểm triết học xưa nay để loại đi những tư tưởng lạc hậu phi lý, phản khoa học. Thế nhưng, Nhà khoa học lừng danh trên thế giới Albert Einstein đã nhận định: “Nếu có một Tôn giáo nào có thể đương đầu với nhu cầu khoa học hiện đại thì Tôn giáo đó phải là Phật giáo”. (Thiện Hữu, dịch, “Phật Giáo Dưới Mắt Các Nhà Trí Thức” NXB Tôn giáo, trang 14.)

Như vậy, dù khoa học có phát triển đến đâu thì chân lý của Đạo Phật vẫn đứng vững như cây đại thọ giữa bảo tố phong ba, như ngọn hải đăng giữa đêm dài tăm tối. Điều này luôn khẳng định, Đạo Phật có một sức sống mãnh liệt, là đạo thiết thực nhất mà nghành khoa học càng phải học hỏi thêm.

    VIII. SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO PHẬT

Thông điệp tình thương, cứu khổ, giúp đời đã được Đức Phật tuyên thuyết ngay từ thời kỳ sơ khai thành lập Giáo đoàn: “Này các Thầy Tỳ Kheo! Hãy ra đi nhiều hướng khác nhau để hoằng dương chánh pháp và cứu độ chúng sanh, hãy đem sự tu tập, an lạc và hạnh phúc của tự thân để giáo hóa tha nhân. Vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, các vị hãy truyền bá chánh pháp cho muôn người. Giáo pháp của Như Lai toàn hảo ở chặn đầu, chặn giữa, và chặn cuối, cả tinh thần lẫn văn tự. Các vị hãy công bố đời sống thánh thiện và hòa bình cho số đông trên khắp hành tinh này.” (Thich Thiện Châu, Luật tạng Mahavagga - Đại phẩm, tr. 19, 20.)

Sau khi Đức Thế Tôn diệt độ, những vị đại đệ tử tiếp tục truyền bá những lời dạy của Ngài và dần dần kết tập lại những lời dạy của Đức Thế Tôn thành văn bản truyền thừa, và giáo đoàn cũng chia ra hai nhóm khi hoằng pháp lợi sanh. Nhóm thứ nhất là “Thượng Toạ Bộ” hay còn gọi là “Nam Truyền”, gồm những vị cao Tăng trưởng lão, đi về hướng Nam đến những nước như: Thái Lan, Myama, Srilanka, Lào, Campuchia vv… với truyền thống giữ nguyên những gì Phật dạy từ hình tướng đến nội dung.

  Nhóm thứ hai là “Đại Chúng Bộ” hay còn gọi là “Bắc Truyền” gồm những vị Tăng trẻ tuổi, đi theo hướng Bắc với tinh thần “Đạo Phập nhập thế”. Nghĩa là phần nội dung không thay đổi, nhưng khi đi đến quốc gia nào, Đạo Phật cũng hoà nhập vào cuộc sống, phong tục tập quán, văn hoá của quốc gia đó như các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Hàn Quốc,  Singapro, Việt Nam vv… với mục đích làm lợi ích cho chúng sanh. Do đó, có thể nhận thấy: mặc dù Đức Phật đã nhập Niết Bàn, thế nhưng, tinh thần giải thoát, lợi lạc quần sanh vẫn là ngọn đuốc soi đường, chỉ đạo trong nhân gian.

Điều này, lịch sử đã từng cho thấy khi quân Mông Cổ hoặc Mãn Thanh khi xâm chiếm Trung Quốc, nhận thấy tầm quan trọng của Đạo Phật là vô cùng quý báu và vô giá nên họ đã cho dịch Kinh Phật sang tiếng Mông Cổ hay tiếng Mãn Thanh để nghiên cứu học hỏi.

Hoặc như trường hợp khi người Mỹ có mặt tại Nhật Bản, với tư cách là kẻ chiến thắng trong trận thế chiến thứ hai. Họ cảm thấy tướng Nhật tuy bại trận nhưng nhờ ảnh hưởng Phật giáo nên có thái độ điềm tỉnh lạ thường, khiến một số người Mỹ phải kính nể và họ bắt đầu tìm hiểu Đạo Phật.

Với sự ảnh hưởng của Đạo Phật, dần dần đã thu hút được các học giả Phương Tây. Đặc biệt cho đến ngày nay, khi mà văn hóa con người càng văn minh, khoa học càng phát triển thì tại các nước Phương Tây, Đạo Phật càng trở nên có uy tín, càng được mở rộng đã đi thẳng vào các trường đại học, trực tiếp truyền thông đến những nhà trí thức, tạo cho họ có cuộc sống đẹp.

Như vậy, vì sao các nước Phương Tây, những con người văn minh của thời đại khoa học lại có sự ưu ái với Đạo Phật như thế?  Xin thưa, vì tính chất và giáo lý của Đạo Phật thật sự giúp rất nhiều và mang lại lợi ích rất lớn cho nhân loại.

Thật vậy, trải qua hơn 2.500 năm, Đạo Phật đã được thử thách, song hành cùng với chiều dài sự tiến hóa của nhân loại, ấy thế mà những giá trị tác dụng của đạo Phật vẫn bất hủ với thời gian. Đặc biệt ngày nay, khi mà thế giới càng văn minh, khoa học càng phát triển thì Đạo Phật càng chói sáng rạng ngời, bởi Đạo Phật đang chinh phục thế giới Phương Tây một cách nhẹ nhàng, đầy tính cảm hóa qua cách sống và hệ thống giáo lý trên cả tuyệt vời.

        IX.  ĐẠO PHẬT DU NHẬP VÀO VIỆT NAM

 Xin nói về Việt Nam, thật là may mắn cho Việt Nam chúng ta. Đất nước chúng ta nằm trong bán đảo Đông Dương, có địa hình địa lý nối dài giữa hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Thế nên, Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh “cổ” của hai nước nầy. Và theo các nhà sử học, Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ nhất Tây lịch, bằng đường thủy do các nhà Sư Ấn Độ theo đoàn thương buôn trực tiếp truyền vào. (Thích Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt Nam. GHPGVN, THPGTP HCM, ấn hành 1992, trang 35.)

Với nguồn giáo lý phong phú, Đạo Phật đi vào nước Việt Nam như là dòng nước mát đi vào lòng đất khô hạn. Phật và Bồ Tát đi vào lòng dân tộc Việt Nam như người cha hiền, mẹ hiền, thầy, bạn hiền. Chùa chiền hòa mình vào làng mạc trở nên biểu tượng mang đậm nét văn hóa bản sắc dân tộc Việt Nam “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” (Minh Chi, Truyền Thống Văn Hoá Và Dân Tộc Việt Nam, NXB Tôn giáo). Do đó, sự có mặt của Đạo Phật nơi đất nước Việt Nam trên hai ngàn năm đã ảnh hưởng một cách sâu sắc trực tiếp hay gián tiếp đến văn hóa, tình cảm, tâm hồn người Việt Nam:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông”

(Huyền Không)

Và:

“Đầu làng có một cây đa

Cuối làng cây thị, đằng xa ngôi chùa”
(
Lệ Như, Thích Trung Hậu, Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam. Ban tu thư vạn hạnh, 1968, câu 214, tr. 616)

Không những thế, Đạo Phật còn hiện diện cả trong cuộc sống của những người dân, có những đôi nam nữ yêu nhau cũng xin Phật gia hộ cho được mãn nguyện:

“Lên chùa lạy Phật quy y

Cầu cho tuổi nớ, tuổi ni kết nguyền”
(
Văn học dân gian Bình Trị Thiên, Ca Dao Dân Ca, NXB Thuận Hoá Huế, 1988, trang 97.)

Không chỉ có ảnh hưởng đến những người dân, ngay như vua chúa của chúng ta cũng thắm nhuần những tinh hoa của Đạo Phật một cách triệt để. Như Phật giáo đời Lý – Trần, luôn áp dụng lời Phật dạy vào quốc sách trị nước, an dân, giữ yên bờ cõi, đã làm cho thiên hại thái bình, nhân dân an lạc. Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại nhà Lý (1010 – 1225) và nhà Trần (1226 – 1400) tồn tại một cách lâu dài gần 400 năm, và phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Qua đó cho thấy, nguồn gốc Tổ tiên của chúng ta từ ngàn xưa đã thâm nhập tinh thần Đạo Phật một cách sâu sắc. Thế thì, hàng con cháu chúng ta, nếu như không biết thừa hưởng gia tài vô giá đó, quả là chúng ta bất hạnh biết bao.

Thế thì thừa hưởng bằng cách nào để đem lại lợi lạc, thành công, và trí tuệ lớn trong cuộc sống? Qua con đường tu tập, ứng dụng 37 phẩm trợ đạo, hay ngắn gọn của “Bát Chánh Đạo” là “Giới - Định - Tuệ” sẽ đem lại cho con người sự thành công trong cuộc sống từ vật chất đến tinh thần một cách mỹ mãn.  

      X. ỨNG DỤNG VÀ LỢI ÍCH TRONG TU TẬP

Chúng sanh muốn thoát khỏi đau khổ đạt đến hạnh phúc, an lạc cần phải nỗ lực tu tập. Bát Chánh Đạo hay còn gọi là Bát Thánh Đạo đều biểu thị con đường chân chánh, đưa đến thánh thiện, thánh quả, giải thoát. Cho nên, cũng như 84 ngàn pháp môn tu khác. Bát Chánh Đạo là con đường tám nghành, con đường hành trì của một người quyết tâm đi tìm sự thật và hạnh phúc chân thiện ở đời.

Người tu tập Bát Thánh Đạo là người hạnh phúc. Gia đình được xây dựng theo Bát Chánh Đạo là gia đình hạnh phúc, và tương tự, một xã hội quốc gia sống theo Bát Chánh Đạo, hẳn nhiên sẽ là một xã hội an lạc.

Có thể khẳng định tám phần thánh đạo là tám điều kiện cần và đủ để được hạnh phúc, an lạc ngay nơi cõi đời này, gồm có:

1. Chánh kiến (Sammàditthi): Hiểu biết đúng đắn.

2. Chánh tư duy (Sammàsankappo): Suy nghĩ chân chính.

3. Chánh ngữ (Sammàvàcà): Lời nói chân chính trung thực.

4. Chánh nghiệp (Sammàkammanto): Hành động chân chính không gây tạo ác nghiệp.

5. Chánh mạng (Sama àjìvo): đời sống nuôi mạng chân chính, không tham lam vụ lợi, xa rời nhân nghĩa.

6. Chánh tinh tấn (Samàvàyamo): Cố gắng nỗ lực chân chính.

7. Chánh niệm (Sammàsati): Suy niệm chân chính.

 8. Chánh định (Sammàsamàdhi): Kiên định tập trung tâm tư vào đề mục chân chính.

Tám yếu tố của Bát Chánh Đạo là một tiến trình sắp xếp theo thứ tự nhất định, như là yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia. Những yếu tố này có thể được diễn tả một cách trung lập, giống như một con sông lớn được hình thành từ những con suối nhỏ hợp lại, và mỗi con suối nhỏ đều có tên và nhiệm vụ hoạt động riêng của nó. Nhờ sự tụ hợp góp sức của những con suối này mà con sông lớn được tồn tại.

Trên phương diện tu tập thiết thực, tám yếu tố này được chia ra làm ba nhóm:

- Nhóm thứ nhất: là nhóm giới đức, được tạo thành bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Nghĩa là tu tập năm đạo đức căn bản của con người (năm giới); mười nghiệp thiện của thân, khẩu, ý: không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thêu dệt, không nói lời thô ác, không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh.v.v… nhằm sinh sống chơn chánh, chế ngự tham, sân, si.

- Nhóm thứ hai: là nhóm tâm định, được tạo thành bởi chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Nghĩa là tu tập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, hành thiền định tức thiền chỉ (dừng các vọng tưởng) và thiền quán (quán tưởng các đề mục như Tứ niệm xứ … để tu tập).

- Nhóm thứ ba: là nhóm trí tuệ, được tạo thành bởi chánh tri kiến và chánh tư duy. Nghĩa là dùng sự hiểu biết và tư duy đúng đắn dựa trên chân lý Tứ Đế, Nhân Duyên, Nghiệp Báo, ứng dụng vào cuộc sống, nhằm từ bỏ những tà kiến sai lầm. Sống theo tinh thần vô dục, vô tham, vô si. Chẳng hạn, như muốn giàu sang tất phải bố thí cúng dường, không thể mong cầu mà được, nhằm giúp con người từ bỏ tâm tham ái, tâm sân hận và tâm si mê.

Lợi ích mà Ðạo Phật đem lại an lạc giải thoát cho chúng sanh. Nhưng tự thân mỗi người phải trải qua quá trình hành trì, tu tập thì mới thể nghiệm được sự an lạc giải thoát đó. Cổ đức nói: “như nhơn ẩm thủy, lãnh noãn tự tri” (người tu hành giống như người uống nước, lạnh nóng chỉ có tự mình biết rõ mà thôi). Lợi ích đó là giải thoát Niết bàn. Nguyên âm của Niết Bàn là Nirvana, là diệt tất cả vọng tưởng mê lầm, tham ái, an trú trong trạng thái tịch diệt vắng lặng gọi là Niết Bàn; Bốn đức Niết Bàn là: Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã, Chơn tịnh.

Chơn thường: chúng sanh trôi lăn trong sanh tử, sống trong vô thường sanh già bệnh chết, giả tạm. Nên Đạo Phật đem lại cho hành giả quả vị là không bao giờ bị luật vô thường nói trên chi phối.

Chơn lạc: Những niềm vui của thế gian mà ta có chỉ là giả tạm, chỉ trong chốc lát rồi tiêu mất, thì Ðạo Phật đem lại cho hành giả một sự an vui toàn vẹn và bất tận.

Chơn ngã: chúng sanh luôn bị nghịch cảnh xung quanh trói buộc, không được tự do theo ý muốn của mình. Ðạo Phật đem đến cho hành giả được giải thoát hoàn toàn, sống một cuộc đời an nhiên tự tại.

Chơn tịnh: chúng sanh sống trong cảnh bùn nhơ của trần tục từ thân lẫn tâm thì Ðạo Phật có mục đích gạn lọc nhiễm ô của cõi đời, được sống một cuộc sống trong trắng, tinh khiết, không vướng chút bận nhơ của trần tục.

Những đức tính của Đạo Phật mà chúng ta cần biết:

- Ðạo Phật nhờ tinh thần Từ Bi, nên đã làm cho xã hội biết thương yêu nhau hơn.

- Ðạo Phật với phương châm “lấy trí tuệ làm sự nghiệp”, nhờ ánh sáng Trí Tuệ đã làm cho xã hội bớt si mê lầm lạc, thấy được đâu là giá trị thật, đâu là giả dối.

- Ðạo Phật nhờ tinh thần tự do bình đẳng tuyệt đối, giải tỏa được những bất công của xã hội, và làm cho cảnh giới Ta Bà này được an vui hạnh phúc hơn.

Sở dĩ con người còn tham lam, sân giận, si mê, chiến tranh, khủng bố, sát hại  vv… là do con người chưa biết quay về theo Đạo Phật, chưa thực hành theo lời Phật dạy nên khổ. Do đó, những giá trị cũng như lợi ích của Đạo Phật là giúp con người quay về với bản thể thanh tịnh, sáng suốt của mình, tức xa lìa phiền não khổ đau, đạt đến an vui giải thoát.

  Muốn được như thế, chúng ta cần phải “Tri hành hợp nhất”. Nghĩa là từ cái thấy biết đúng đắn, đi đến thực hành phải rốt ráo, ta mới có thể thu thúc lục căn,  không để cho Ngũ dục lạc lôi cuốn, không gây tạo nghiệp nhân đau khổ, không đoạ ba đường ác và chuyển hóa dần ba độc Tham, sân, si qua con đường tu tập Giới – Định -Tuệ.

Đức Phật day: “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng đi với Giới đem lại kết quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng đi với Giới đem lại kết quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng đi với Định, đem lại kết quả lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng đi với Tuệ sẽ trở nên giải thoát hoàn toàn, thoát khỏi mọi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.”Thích Minh Châu, Trung Bộ III, ĐTKVN, 2001, trang 234)

Quay về với Đạo Phật, hiện tại tâm chúng ta được an lạc, tương lai đem đến sự an vui giải thoát. Đối với gia đình và xã hội ta biết sống chia sẻ, biết yêu thương, đem lại lợi ích thực tiễn cho mình và cho tất cả mọi người, mọi loài. Do đó, khi một người, một gia đình, một quốc gia, một xã hội cho đến tất cả mọi người sống trên hành tinh này, nếu biết thực hành theo lời Phật dạy, thì thế giới này sẽ bình yên và tất nhiên sẽ trở thành cõi Tịnh Độ giữa trần gian.

             C. KẾT LUẬN

Trải qua hơn 2500 năm, Đạo Phật đã được thử thách, cọ xát với thời gian và không gian; giá trị, tác dụng của Đạo Phật vẫn như xưa. Ngày nay, trước tiến bộ văn minh vật chất quá độ, đã xô đẩy con người vào trong hố thẳm của tham vọng, hận thù. Chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt trên thế giới, nghèo đói, bệnh tật, thiên tai vẫn đe dọa đời sống của nhân loại. Càng văn minh, con người càng có nhiều nỗi lo lắng, sợ hãi mới: nạn ô nhiễm môi trường, hủy diệt sinh thái, áp lực kinh tế xã hội đè nặng lên trên tâm trí của con người, tạo nên ức chế tâm lý băng hoại về đạo đức, làm mất thăng bằng giữa đạo đức và hưởng thụ. Đạo Phật với con đường thoát khổ thiết thực, nhân bản, với phương châm từ bi hỷ xả, đã xóa bỏ mọi chấp thủ, hận thù, sẽ tiếp tục sứ mệnh hóa giải khổ đau cho nhân loại. Những ai học và sống với giáo lý Đạo Phật thì hiện tại tự thân luôn an lạc và đem sự an vui đến cho mọi người, mọi loài; đời sau sanh về cảnh giới an lành và tu tập hướng đến Phật quả.

Thật vậy, những gì mà Đạo Phật đã, đang và tiếp tục cống hiến cho nhân loại, cho cuộc đời mà chúng ta có thể khẳng định qua những điều sau: Đạo Phật là Đạo sự thật, phù hợp với chân lý; là Đạo Từ bi, Đạo Hỷ xả, Đạo Vô Ngã Vị tha, Đạo dứt sạch phiền não, Đạo giải thoát, Đạo tối thắng siêu việt, là Đạo trí tuệ…

Đến với Đạo Phật chúng ta không chỉ cảm nhận qua lý thuyết suông mà rất thực tế với cuộc sống. Giáo lý của Đức Phật luôn mang tính cẩm nang, mời bạn đến để thấy, chứ không phải đến để tin.

 Bởi bản chất của Đạo Phật là “Từ Bi – Hỷ Xả, Vô Ngã – Vị Tha”. Mục đích của Đạo Phật cứu khổ cho chúng sanh, đem ánh sáng giác ngộ đến cho con người, giúp cho con người đạt đến quả vị an vui giải thoát. Ví như tất cả nước trong đại dương đều có chung một vị, đó là vị mặn. Cũng như thế, tất cả giáo pháp của Đức Phật đều có chung một vị, đó là vị giải thoát. Cho nên, các pháp môn tu tập của Đạo Phật đều hướng đến quả vị giải thoát, xa lìa phiền não khổ đau. Ngày nay, thời đại văn minh, khoa học phát triển, nhu cầu vật chất cũng như mọi thứ trong cuộc sống luôn luôn tăng trưởng và tăng giá; duy chỉ có mỗi đạo đức của con người chẳng những “Không tăng” lại  “Thụt lùi”. Chính vì điều này nên tôn chỉ của Đạo Phật nhằm hướng dẫn chúng ta:

“Không làm các điều ác

Hay làm các việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy”
(
HT. Tích Minh Châu, dịch, Kinh Pháp Cú  số 183,  NXB Tôn giáo Hà Nội, năm 2000, tr 120.)

Quay về với Đạo Phật, hiện tại tâm chúng ta được an lạc, tương lai được giải thoát an vui. Đối với gia đình và xã hội, ta biết sống chia sẻ, biết thương yêu, biết đem lại lợi ích thật sự cho mình và cho người. Đạo Phật với chủ ý nhằm vào việc mang những giá trị, lợi ích của mình dâng tặng cho đời.

Cho nên, khi đến với Đạo Phật là chúng ta được mở mang trí tuệ giải thoát, nhờ đó ta kiểm soát được ba nghiệp là từ lời nói, ý nghĩ và việc làm của mình, xa lìa tâm tham ái, chấp thủ và chuyển hóa khổ đau. Đem lại lợi ích cho mình và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Chúng ta hãy đi theo con đường Phật dạy, để sống một cách có ý nghĩa và thành Phật quả trong tương lai.

 

.


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 479
Tổng truy cập: 690.871
Số người đang online: 7