Top

tin tuc ngay nay

Lục hòa

Thứ 2 | 01/03/2021
Qua pháp Lục Hòa của Đức Phật, chúng ta nhận thấy đó là chất keo tốt nhất gắn bó sự đoàn kết hòa hợp, an vui của Tăng đoàn.

BÀI 1

 

A. DẪN NHẬP

Đạo Phật được xây dựng trên ba nguyên lý căn bản đó là Phật Pháp và Tăng. Tăng là nhân tố quan trọng nhất để quyết định sự tồn vong của Phật giáo. Dù ở bất cứ quốc độ và thời gian nào, thì Tăng vẫn thể hiện là một đoàn thể của sự hòa hợp, thanh tịnh và cao quý. Đức Phật có dạy rằng: “Tụ hội trong đoàn kết, trao đổi trong đoàn kết và giải tán trong đoàn kết, thì đó là một đoàn thể vững mạnh.” Bởi tính chất của sự đoàn kết chính là nhân tố làm cho con người gần gũi, cảm thông và thương yêu nhau hơn. Đây cũng chính là yếu tố của sự thành tựu trong mọi công việc.

Khi mọi người biết đặt mình vào vị trí của người khác thì họ sẽ có được sự cảm thông và chia sẻ cho nhau, biết lấy ý của người khác làm ý của mình. Bằng ngược lại, mọi người ai cũng chỉ nghĩ cho riêng mình, không dung hòa được với những người khác, thì đó là nguyên nhân đưa đến thất bại, đau khổ. Do đó mà sự hòa hợp là một nhân tố rất quan trọng để xây dựng nên cuộc sống tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Và phương pháp hữu hiệu để có được sự đoàn kết và hòa hợp không gì tốt hơn là pháp LỤC HÒA. Đó cũng chính là đề tài mà chúng tôi sẽ đến với quý vị qua buổi chia sẻ giáo lý sáng hôm nay.

B. NỘI DUNG

I. ĐỊNH NGHĨA

Lục là sáu, hòa là hòa thuận, hòa hợp, hòa kính.

Lục hòa là 6 phương pháp sống đem lại sự hòa hợp, yêu thương, chia sẻ cho nhau từ vật chất đến tinh thần.

Pháp Lục Hòa được đức Phật nói ra để chỉ dạy cho các đệ tử xuất gia của Ngài lấy đó làm nền tảng căn bản cho nếp sống cộng đồng trong Tăng đoàn, để đem đến sự hòa hợp, hòa kính, hạnh phúc và an lạc. Hòa hợp với mục đích là tiến đến sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải hòa trong sự nhu nhược, thụ động. Chính 6 pháp hòa kính này làm cho Tăng đoàn hòa hợp và thanh tịnh.

Lục hòa gồm có 6 điều như sau: 1. Thân hòa đồng trú; 2. Khẩu hòa vô tranh; 3. Ý hòa đồng duyệt; 4. Kiến hòa đồng giải; 5. Giới hòa đồng tu; 6. Lợi hòa đồng quân.

Khi Phật còn tại thế, sự sinh hoạt của Tăng đoàn trong 12 năm đầu chưa chế giới luật. Đại chúng chỉ sống theo pháp Lục Hòa. Cho nên có thể nói, pháp Lục Hòa như một giới luật căn bản của người xuất gia nên mọi người cần phải hành trì.

Pháp Lục Hòa này được Đức Phật dạy cho hàng đệ tử xuất gia. Tuy nhiên, đứng về mặt tính chất mà nói, thì pháp Lục Hòa này không chỉ áp dụng chỉ cho người xuất gia mà nó có ý nghĩa với tất cả những ai muốn có tâm xây dựng nên một nếp sống đạo đức cho chính mình và cộng đồng xã hội. Sáu pháp hòa kính này có năng lực hóa giải mọi xung đột giữa cá nhân và cá nhân, cộng đồng tập thể này với cộng đồng tập thể khác trong cuộc sống chung đụng với nhau từ vật chất đến tinh thần.

Theo Đại Thừa Nghĩa Chương, thì ý nghĩa của Lục Hòa đồng đưa đến sự an lạc, không tạo nên phiền não. Sự bền vững của pháp Lục Hòa luôn phải được thể hiện nơi lòng chí kính. Cho nên, sự thành công để đưa đến an lạc phải có hòa và kính đi đôi với nhau. Vì vậy, pháp Lục Hòa còn gọi là Sáu Pháp Hòa Kính.

II. DUYÊN KHỞI VỀ PHÁP LỤC HÒA

1. NGUỒN GỐC

Sáu pháp hòa kính đầu tiên được đức Đạo sư nói ra qua tiêu đề là Lục Trọng Pháp trong Kinh Tăng Nhất A Hàm và Sáu Pháp Ủy Lao trong Kinh Trung A Hàm 52, kinh 196 Châu Na, được đức Đạo sư đem ra dạy cho Tôn giả A Nan và Sa Di Châu Na nhân hai người đến để trình lên chỗ thấy nghe của Sa Di Châu Na về trường hợp thầy trò Ni Kiền Thân Tử, sau khi ông ta mất đi và những cảnh tượng đau lòng giữa các đệ tử của ông xảy ra. Sự phân hóa phát xuất từ những bản ngã cá nhân được bùng nổ từ những ức chế tâm lý đã từng được họ cưu mang thể hiện qua những hành động chống báng nhau, không ai nghe ai. Họ tranh đấu, kiện tụng, thù nghịch nhau, tranh luận với nhau.

Những người bạch y tại gia, đệ tử của Ni-kiền Thân Tử, thấy những cảnh tượng như vậy, họ đều chán nản và lảng xa các đệ tử của Ni Kiền Thân Tử này. Vì những điều các đệ tử của Thầy họ nói ra đều là ác pháp luật, không phải là pháp giải thoát, không đưa đến Chánh giác, cũng không phải là lời dạy của đấng Thiện Thệ. Đó là sự băng hoại, không thể đứng vững, không nơi nương tựa và cậy nhờ. Bởi vì bậc Thầy mà họ tôn sùng không phải là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ, Sa Di Châu Na cùng với Tôn giả A Nan đi đến chỗ Thế Tôn và trình bày sự việc như trên. Nhân đó Phật mới nói pháp Lục Hòa, vì muốn học trò của Ngài luôn luôn phải sống trong vô sự, thể hiện qua sự ái kính hòa nhã lẫn nhau. Sau đó Đức Thế Tôn dạy các đệ tử của mình là: “khi Ta khuất bóng, các con sống cộng đồng hòa hợp hoan hỷ không tranh chấp, cùng đồng nhất trong một tâm, cùng đồng nhất trong một giáo pháp, hòa hợp như nước với sữa, sống an lạc như lúc Ta còn tại thế.”

Cũng theo kinh Tăng Nhất A Hàm 29, phần Lục Trọng Pháp, đức Đạo sư dạy cho các Tỳ Kheo: “Các ngươi hãy suy niệm sáu trọng pháp, kính trọng, tôn trọng, và ghi nhớ mãi ở trong tâm không cho quên mất.”

Giữa hai bản kinh Trung A-hàm và Tăng Nhất A-hàm, tuy những dụng ngữ không giống nhau, nhưng về nội dung thì không khác. Qua thời gian, hai bản kinh được đức Đạo sư nói ra là khác nhau, nhưng nội dung ý nghĩa thì đồng nhau trên cương vị đưa hành giả đến chỗ thanh tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý. Đó chính là những yếu tố cần thiết trong một tập thể sống nếu muốn trở nên an lạc và hạnh phúc ngay hiện tại.

Theo A-tỳ-đạt-ma Thập Dị Môn Túc luận 15, Sáu pháp hòa kính này là Sáu Pháp Khả Hỷ và được Tôn giả Xá-lợi-phất trình bày. Đây là những gì chính Tôn giả đã từng nghe đức Đạo sư dạy, về ý nghĩa không khác với Sáu pháp hòa kính, tuy trên mặt dụng ngữ là có khác về cách sử dụng từ, nhưng nội dung thì giống nhau về việc tu tập ba nghiệp để trở nên thanh tịnh từ vật chất đến tinh thần được kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong việc thể hiện qua cuộc sống tập thể Tăng đoàn, tạo nên an lạc hạnh phúc trong sự đoàn kết, hòa hợp đưa đến nếp sống vô sự an lạc trong giải thoát cuối cùng.

2. TẠI SAO PHẬT NÓI PHÁP LỤC HÒA?

Sự bất hòa là nguyên nhân dẫn đến khiến mọi người phải xa nhau, nếu họ không muốn ở chung với nhau để làm khổ cho nhau. Gia đình không hòa thì cốt nhục chia ly. Xóm làng không hòa thì sanh ra kiện tụng, chém giết lẫn nhau. Quốc gia không hòa thì sanh ra giặc giã, loạn lạc, dân chúng khổ sở. Nếu trong đoàn thể Tăng đoàn không hòa hợp thì sự tu tập không đạt được an lạc giải thoát.

Người đời có câu “dĩ hòa vi quý” nghĩa là lấy hòa làm quý. Sách nho cũng có câu: “thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn hòa”. Nghĩa là thời thế thuận không bằng địa thế lợi, địa thế lợi không bằng nhân tâm hòa. Do đó, chúng ta nhận thấy nhân tâm hòa là một điều hết sức quan trọng.

III. Ý NGHĨA VÀ THÀNH PHẦN CỦA PHÁP LỤC HÒA

1. THÂN HÒA ĐỒNG TRÚ

Là cùng sinh hoạt hằng ngày trong một tổ chức, chúng ta nên chiếu cố giúp đỡ lẫn nhau. Phải chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau trong mọi công việc. Không sống theo kiểu cách lập dị, không phách lối quan liêu, biết hoà mình, đồng sự đối với mọi người, không sống đóng khung, cô lập, để rồi gây rạn nứt, sứt mẻ mối thâm giao tình cảm đối với những Pháp lữ đồng môn cả trước mặt lẫn sau lưng, để tạo thành mối tương thân, tương ái, tương kính và hoà hợp lẫn nhau. Như vậy, nguyên tắc này được xem tương ứng với “Đồng sự nhiếp” trong Tứ nhiếp pháp, và cũng là bí quyết cho sự an lạc và hạnh phúc.

Đối với người đi xuất gia thì “tứ hải gia huynh đệ”. Tuy không phải ruột thịt nhưng cùng chung lý tưởng là phụng sự và giải thoát, hay “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Cho nên sống chung trong một chốn Thiền Môn thì không nên chia phe phái, không phân biệt vùng miền Nam - Bắc, hãy luôn thương yêu, chăm sóc, thông cảm và sách tấn nhau trong con đường tấn tu đạo nghiệp. Phải lấy tinh thần hòa hợp làm đầu, không gây đau khổ cho nhau. Nếu sống chung với nhau có sự hòa hợp, vui vẻ thì việc tu tập mới có tiến bộ và mới thật sự đem lại niềm an lạc.

Nếu là anh em, vợ chồng, con cái trong một gia đình, thì phải trên thuận dưới hòa, kính  trên nhường dưới, chứ không được lộn xộn vô trật tự. Trong một gia đình, vợ chồng con cái mỗi người chỉ lo sống riêng cho cá nhân mình, mỗi người sống với một thế giới riêng biệt thì gia đình đó sẽ trở nên lạt lẽo không hạnh phúc, nó đưa đến đường ai nấy đi, việc ai nấy làm, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nếu gia đình nào áp dụng thân hòa đồng trụ, thì gia đình đó tăng thêm tình thân thiết gắn bó, tạo thành chất keo sơn hạnh phúc thủy chung.

Nếu hàng xóm láng giềng thì cũng cần phải thể hiện tình tương thân tương ái, sẵn sàng chia sẽ những khó khăn, giúp đỡ lẫn nhau, tối la tắt đèn có nhau. Cho nên người ta thường nói: “bán bà con xa mua láng giềng gần” là vậy.

Đặc biệt đối với những Phật tử, cùng tu tập dưới một đạo tràng, thử hỏi nếu không có sự hòa hợp thì đạo tràng đó sẽ như thế nào? Cho nên là Phật tử thì càng phải lấy hòa khí làm đầu, phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau như con một nhà. Không được tranh dành hơn thua, không tranh dành ăn trên ngồi trước, phải áp dụng tinh thần tự giác, ý thức về trách nhiệm và bổn phận của mình, phải biết nhường nhịn trên tinh thần hòa hợp thì sẽ trang nghiêm thanh tịnh, giúp ta dễ dàng thăng hoa trên bước đường tu tập.

“Mỗi người mỗi nước mỗi non

đến khi vào đạo là con một nhà”.

Nếu đồng bào một nước thì phải lấy đoàn kết làm đầu, không gây cảnh nồi da xáo thịt, chia năm xẻ bảy, dẫn đến cảnh chiến tranh điêu tàn.

Nói chung, mọi người nếu sống cùng nhau trong một đoàn thể, trong một hoàn cảnh, một môi trường thì phải luôn hòa hảo, hòa thuận, biết thông cảm và chia sẻ với nhau.

2. KHẨU HÒA VÔ TRÁNH

Muốn thân được hòa hợp thì mỗi người phải tự giữ gìn lời nói ở miệng của mình. Cho nên điều thứ hai của pháp Lục Hòa là miệng hòa hợp không tranh cải. Phải thận trọng và khéo léo trong lời nói, hạn chế mọi sự tranh cãi và luôn tôn trọng, lắng nghe người khác. Đó chính là khuynh hướng mà chúng ta phải noi theo khi thực hiện “khẩu hòa vô tranh”. 

Trong giao tiếp hằng ngày chúng ta dùng lời lẽ ôn hoà nhã nhặn để đưa đến hoà hợp không tranh cãi. Đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi bộ: “Hàng đệ tử phải nhớ rằng, trong bất cứ sự duyên nào, ngôn ngữ của chúng ta phải ôn hoà, tự ái không tranh cãi”. Khẩu Hòa Vô Tranh dựa trên lẽ thực, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói những li thô bạo độc ác. Luôn giữ thái độ hòa khí vui vẻ trong tập thể, để tạo không khí ôn hòa thân thiện tốt đẹp.

Nguyên tắc thứ 2 này có nghĩa là Hoà đồng trên Ngôn luận, luôn dùng lời ái ngữ dễ mến, tạo niềm tin yêu thật sự cho người nghe. Nên sử dụng lời nói thành thật, ngay thẳng, từ ái, không nói lời gây chia rẽ và hận thù mà nói lời mang ý nghĩa xây dựng và hoà giải; không gây rạn nứt, sứt mẻ giữa các mối thâm giao. Không nên dùng lời nói đâm thọc, mỉa mai, ẩu đả nhau, để đưa đến chiến tranh. Với ý nghĩa của Pháp hoà này, chúng ta nên “nói năng như chánh pháp và im lặng như chánh pháp” (Trung bộ kinh, Kinh Thánh cầu). Nguyên tắc thứ 2 này được xem tương ứng với “Ái ngữ nhiếp” trong Tứ nhiếp pháp.

Trong một cộng đồng tu tập, chúng ta không nên vì lợi ích cho cá nhân mà có những lời nói làm xúc não đến những người khác, làm cho người buồn phiền đau khổ. Nếu chúng ta đem đến cho người niềm vui thì ta sẽ có lại một niềm vui khác, bằng ngược lại, ta làm cho người đau khổ thì ta cũng sẽ chịu đau khổ, bởi luật nhân quả không bao giờ sai chạy. Mặc dù là người có chức quyền như cha mẹ hoặc những người cấp trên như giám đốc…cũng không nên dùng những lời nói thô ác để mạ nhục, phỉ báng người cấp dưới của mình, khiến cho người phải buồn phiền, đau khổ. Phật khi còn tại thế, Ngài cũng dùng lời nặng để quở trách hàng đệ tử của mình, nhưng lời nói của Ngài được phát xuất từ lòng từ bi, muốn đệ tử của mình được tiến bộ. Còn chúng ta thì lời nói phát xuất từ tâm phẫn nộ, sự sân hận, hoặc phát xuất từ sự bảo vệ bản ngã, nên hay khiến người khác đau khổ.

Chúng ta phát xuất ra lời nói ác có 2 lỗi như sau: 1. Làm cho người buồn phiền; 2. Tạo khẩu nghiệp cho chính mình. Do đó, người Phật tử luôn cẩn thận trong mọi lời nói của mình. Bởi đối với người Phật tử thì lời nói là biểu thị của tâm từ. Lời nói phải với ý nghĩa của sự xây dựng, sách tấn cho nhau, cùng nhau dứt trừ điều ác và phát triển điều lành. Nếu có vấn đề thắc mắc, muốn bàn cãi cho ra lẽ, thì cũng phải dùng lời nói ôn hòa để hòa giải mọi sự việc.

Khi sân giận thốt ra lời nói ác cũng như cây đinh đóng vào gốc cây, mặc dù đinh đã rút ra nhưng dấu đinh vẫn còn. Người phát ra lời nói ác, làm buồn người khác, mặc dù đã xin lỗi nhưng cũng để lại một nỗi đau, sự tự ti mặc cảm, hoặc đã làm tổn thương trong lòng người đó. Cho nên người Phật tử cần phải cẩn thận trong mọi lời nói của mình. Phải suy nghĩ kỹ trước khi thốt ra lời nói. Muốn có một lời nói chân chánh thì chúng ta cần phải giữ chánh niệm cho mình. Bởi khi có chánh niệm thì chúng ta sẽ kiểm soát được mọi hành vi của mình, không để xảy ra những điều bất thiện cho ba nghiệp.

            Để thực hiện lời nói ái ngữ cần phải hội đủ những yếu tố mà trong kinh ví dụ về Cái Cưa bài kinh 21 trang 277, Trung Bộ 1, Đức Phật đưa ra như sau:

            “Nói đúng thời, không nói phi thời

            Nói lời chân thật, không nói lời hư ngụy

            Nói lời nhu hòa, không nói lời thô bạo

            Nói lời lợi ích, không nói lời vô ích

            Nói lời xuất phát từ lòng từ, không nói lời xuất phát từ lòng sân”

            Lời nói chân chánh đóng vài trò quan trọng trong cuộc sống nên ông bà ta khuyên con cháu phải: “uống lưỡi bảy lần trước khi nói”

            Đức Phật còn dạy chúng ta: “Chẳng luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo mà tu.” Vậy, phàm những lời nói đúng lý, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sinh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế.

            Đức Phật cũng dạy rõ tầm quan trọng của lời nói trong kinh pháp cú số 100:

“Dầu nói Ngài ngàn lời

Nhưng không gì ích lợi

Tốt hơn một câu nghĩa

Nghe xong được tịnh lạc”

 

Đừng nên nghĩ rằng, mình nói không lại người kia nên chẳng thèm nói. Khẩu hòa ở đây nó được phát xuất từ ý. Ý vui vẻ thì phát ra lời nói cũng vui vẻ. Do đó, điều thứ 3 cần hòa hợp là ý hòa đồng duyệt. Sự tu tập đưa đến thân hoà, miệng hoà vẫn chưa đủ. Vì vậy, từ thân và miệng cần phải phát xuất từ trong tâm của chúng ta đó là ý hòa.

3. Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT

Hoà đồng trên nguyên tắc Ý chí. Trong cộng đồng đệ tử của Đức Phật, sự hoà hợp ý chí, tâm tư và nguyện vọng, được xem là vấn đề hết sức quan trọng. Một khi người ta đã từ bỏ thân thuộc trong gia đình để đi xuất gia, thì còn niềm vui nào hơn là niềm vui đoàn thể Pháp lữ, cùng chia sẻ buồn vui với nhau.

Có biết chăng, bên trong cánh cửa nhà Phật là một thế giới của những con người ngày đêm nỗ lực không ngừng đào luyện tài năng, tô bồi phẩm hạnh để xứng đáng bậc Thầy đưa đường chỉ lối cho trời người. Quay về quá khứ, chúng ta thấy mái chùa, cửa Phật luôn là nơi cưu mang các bậc anh tài, đóng góp công sức trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước. Nhìn về lịch sử của các thời đại Đinh – Lê - Lý - Trần thì chúng ta sẽ thấy rõ được điều đó. Nếu không phải là nơi tổ chức có truyền thống giáo dục chặt chẽ thì làm sao Phật giáo Việt Nam ghi được những trang sử vàng son sáng ngời như vậy được. Bởi Phật giáo là cộng đồng tổ chức của những người tỉnh thức, vui sống trong tình thân hữu, không màn đến những vấn đề được mất, hơn thua và họ luôn sống vui với những niềm vui của mọi người, buồn với những cái đau thương của cuộc đời.

Trong chúng ta, mỗi người đều có sự nhìn nhận khác nhau nhưng quan trọng là mục đích đi đến sự thành công chung cho tập thể trong tinh thần tích cực và phát triển. Chúng ta cùng tán thành ý kiến hay của nhau, không sanh tâm ganh tỵ thù hiềm. Phải luôn tôn trọng ý kiến người khác nếu ý kiến của người đó đúng.

Nếu vì sợ uy quyền nên phải hòa, thì cái hòa đó đến một lúc nào đó nó sẽ bùng nổ, dẫn đến bất hòa thì lại càng tệ hại hơn nữa. Phải biết thông cảm và nghĩ những điều tốt đẹp về nhau, không sanh tâm đố kỵ. Có những người hòa chứ không hợp. Nghĩa là bằng mặt chứ không bằng lòng, và khi có một chuyện gì không thích nhau thì họ sẵn sàng tranh đấu nhau đến mức cuối cùng. Một khi sự xung đột bên trong đã đến một mức độ không thể chịu đựng được nữa thì nó sẽ phát ra qua hành động và lời nói.

Ý của con người quan trọng hơn cả. Nếu ý thanh tịnh thì phát ra lời nói, cử chỉ, hành động thanh tịnh, hợp với chánh pháp. Nếu ý nhiễm ô thì phát ra lời nói, hành động cũng thế. Cho nên người Phật tử phải luôn giữ chánh niệm. Phải lấy ý của tất cả mọi người làm ý của mình.

Muốn sống hòa hợp với nhau thì mọi người tự hạ bản ngã của mình xuống một chút, để tiếp nhận những điều hay ý tốt từ những người khác. Nếu người nào tự xem trọng bản ngã của mình quá, thì họ sẽ không bao giờ tiếp thu ý kiến của người khác, bởi lúc nào họ cũng thấy mình là đúng, là trên hết. Những người như thế thì họ khó hoàn thiện được chính mình.

Chúng ta cần nên thực hiện tinh thần là “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu.” Nếu biết lắng nghe tiếng nói từ đại chúng thì chúng ta sẽ nhanh hoàn thiện mình hơn. Bởi trong mọi người ai cũng có điều tốt, hãy lấy điều tốt của mọi người để học hỏi thì điều tốt đó sẽ trở thành điều tốt của mình.

Muốn được tâm ý hòa hiệp thì phải tu hạnh hỷ xả. Hỷ xả nghĩa là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền, hờn giận, không chấp chặt trong lòng những lỗi lầm của người khác. Khi có cảm thông tha thứ thì mới có sự hòa hợp được tâm ý, được như thế thì tâm hồn của chúng ta mới thư thái, vui vẻ.

4. KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI

Kiến chính là kiến thức của sự học hỏi. Nghĩa là đem những điều thấy biết của mình ra san sẻ và cảm thông với nhau. Sống chung với nhau, mỗi người hiểu biết được điều gì, khám phá được điều gì, thì nên giải bày cho người khác hiểu. Hãy cùng nhau tìm ra những phương hướng giải quyết để đi đến sự tốt đẹp. Vốn liếng tri thức là tài sản của mỗi cá nhân, thì đối với việc chia sẻ kiến thức tất nhiên không phải ai cũng có thể đồng ý. Tuy nhiên, Ở đây chúng ta nên hiểu rằng, giá trị chân thật của đời sống tập thể không nằm ở kiến thức và lợi ích riêng cho bản thân mình mà là sự chia xẻ trong tinh thần hòa hợp.

Kiến hòa đồng giải tức hoà đồng trên sự nhận thức, không những nâng đỡ nhau về đời sống vật chất mà còn giúp nhau trong cuộc sống tinh thần về tri thức, tri kiến và hiểu biết. Đạo Phật được nhìn nhận là đạo của trí tuệ và từ bi; chính vì vậy mà ngay cả Đức Phật, Ngài cũng không độc quyền chân lý giác ngộ mà Ngài dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”; thành Phật trước hoặc thành Phật sau đều cùng một ý nghĩa là giác ngộ chân lý, thoát ly mọi hệ lụy khổ đau của cuộc đời.

Phật tử nên chỉ dạy cho nhau cùng hiểu biết kinh luật nhà Phật; người hiểu biết trước có bổn phận chỉ vẽ cho người sau cùng lãnh hội. Chia sẻ cho nhau để cùng nhau tu tập. Đóng góp, xây dựng cho nhau về những cách nghĩ, cách làm… Tất cả đều phải được đặt trên nền tảng của chánh kiến. Thấy biết như vậy thì trình độ mới không chênh lệch.

Đối với người Phật tử tu tập trong một đạo tràng, khi hiểu biết được điều gì từ quý Thầy Cô giảng dạy thì cũng phải chia sẻ với mọi người để cùng biết, cùng hiểu và cùng nhau tu tâp. Không ích kỷ hẹp hòi ôm cái kiến giải của mình làm tài sản riêng tư. Nếu không giải bày cho nhau hiểu thì ta là một người ích kỷ. Lại còn tạo ra sự tắt nghẽn giữa kiến thức và giữa sự thông cảm với những người khác. Tạo ra sự bất hòa, chia rẽ, xung đột lẫn nhau, dẫn đến mỗi người sẽ thấy, sẽ nghĩ mỗi cách khác nhau. Do đó, gây nên sự hoang mang, nghi ngờ trong đoàn thể, tạo ra sự bất hòa, và mọi người không biết tin vào ai.

Trong một tập thể hay quốc gia, mọi người cùng hài hòa sẵn sàng chia xẻ những kinh nghiệm, chia xẻ những nhận thức, những khám phá mới thì xã hội mới mau phát triển, mau cường thịnh. Nhờ vào Kiến hòa đồng giải mà mỗi người thấy rõ nhược điểm của mình cần cố gắng, thấy rõ sự tiến bộ của mình cần phát triển. Nếu ý kiến bất đồng, không chịu tương kính hòa giải với nhau thì sẽ xảy ra nhiều chuyện khó khăn và làm trở ngại mọi vấn đề, đưa đến bế tắt và suy vong.

5. GIỚI HÒA ĐỒNG TU

Chúng ta cũng biết, bất cứ một tổ chức hay đoàn thể nào cũng đều có những kỷ cương, luật pháp của nó. Trong đó, Phật giáo là một tổ chức cộng đồng có một nền giới luật chặt chẽ và nghiêm minh, nhưng có một tính chất ưu việt hơn các tổ chức xã hội cũng như Tôn giáo khác là Giới luật không xem như là một Giáo luật hay Tín điều đầy uy quyền do một đấng tối cao nào, hoặc cơ quan chuyên chế pháp định nào đó ban hành, mà nó được xem là một phương pháp của cộng đồng đệ tử của Đức Phật, và chính những phương pháp này giúp họ bài trừ những phiền não tập khí xấu, tu tập chuyển hóa để đạt đến một cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

Thời Đức Phật còn tại thế, sự kiết giới và chế định luật nghi, Ngài không áp đặt, mà là dựa trên nguyên tắc “Tuỳ phạm tuỳ kiết”, nghĩa là trong thực tế những sự kiện nào đã gây ra sự bất ổn, bất hạnh cho cá nhân và cộng đồng thì Đức Phật dựa vào đó mà chế định ra Giới luật. Do đó, Giới luật được xem là hàng rào, là thành luỹ bảo vệ an toàn cho cuộc sống phạm hạnh, cuộc sống đầy thánh thiện, giúp cho mọi người Phật tử Tại gia cũng như Xuất gia chuyển hoá phiền não, khổ đau để thoát ly mọi hệ lụy của tham lam, sân hận, si mê,… hướng đến thanh tịnh, từ bi và trí giác. Vì vậy, mọi người đệ tử của Đức Phật phải giữ gìn cẩn thận, xem đó như con thuyền vượt bể khổ trần gian nhắm bờ giải thoát để tiến đến.

Giới luật Phật giáo còn là hàng rào bảo vệ an toàn phẩm hạnh nhân cách, ngăn ngừa điều sai trái, dứt trừ điều xấu xa (phòng phi chỉ ác). Hơn nữa, Giới luật của Phật giáo chính là nền tảng luân lý, đạo đức; ngoài việc thánh thiện hoá cho cá nhân ra, còn được xem là những nguyên tắc thăng hoa cho cộng đồng xã hội. Theo tinh thần Duyên sinh vô ngã, Phật giáo cho rằng, cá nhân không thể tách rời cộng đồng, và cộng đồng không ngoài cá nhân; vì vậy, sự trong sạch tư cách của cá nhân chính là sự thăng hoa và thịnh vượng của cộng đồng tổ chức.

Đứng về mặt khác mà nói, thì “Giới” không chỉ là giới luật của người xuất gia, mà có thể được hiểu rộng hơn như là mọi khuôn thước, chuẩn mực mà những người trong một gia đình hay tập thể phải tuân theo.

Trong bất cứ một tổ chức đoàn thể nào cũng đều có những quy luật, kỷ cương riêng của tổ chức đoàn thể đó. Nếu sống mà không tuân thủ những quy luật của tổ chức đoàn thể đó đưa ra, mạnh ai nấy sống, không ai nghe lời của ai, thì đoàn thể đó có vững mạnh đến đâu thì trong một thời gian ngắn nó cũng sẽ tan rã. Phật giáo cũng không ngoại lệ. Hàng đệ tử Phật, đã cùng sống chung trong một đoàn thể tu hành, cùng lãnh thọ giới pháp như nhau, thì phải cùng nhau hành trì.

Khi chúng ta giữ giới chính là đem lại sự thanh tịnh cho mình và cho người khác. Giới luật của Phật chế ra mặc dù có nhiều cấp bậc khác nhau, nhưng tựu chung là mục đích đem đến sự an lạc thanh tịnh cho Tăng đoàn. Mọi người tùy theo cấp bậc giới phẩm của mình mà cùng nhau tuân thủ và cùng nhau tu tập theo giới luật chung đã được đặt ra. Phải tôn trọng những giới pháp đã lãnh thọ.

Giữ giới vừa tăng trưởng thiện pháp cho mình mà cũng vừa giữ sự thanh tịnh, an lạc cho những người khác. Nếu trong cùng một cấp bậc tu hành như nhau mà người giữ giới, người không giữ giới thì sẽ tạo nên một đoàn thể bất an, không thanh tịnh, không hòa hợp, sẽ tạo nên sự xung đột trong đại chúng. Đức Phật dạy: “Khi những Phật tử đã chung sống với nhau, phải cùng giữ những giới luật như nhau, giữ đúng giới luật của cấp bậc mình.”

Tóm lại: Trong một đoàn thể, dù đạo hay đời, nếu không cùng nhau giữ gìn giới điều, kỷ luật, quy tắc chung của đoàn thể, thì chúng ta sẽ không bao giờ sống chung với nhau được. Vì vậy, người Phật tử muốn hòa hợp để cùng nhau tu tập, thì mỗi người cần phải giữ gìn giới luật như nhau.

6. LỢI HÒA ĐỒNG QUÂN

Hoà đồng trên nguyên tắc Quyền lợi. Với những Pháp lữ đồng tu trong một cộng đồng đệ tử Đức Phật, thì mọi quyền lợi từ vật chất cũng như tinh thần đều cùng nhau san sẻ đồng đều với nhau; biết nhường nhịn, không so đo, tính toán; không ganh ghét đố kỵ, thù hiềm tranh quyền đoạt lợi. Bởi Tất cả những đồ vật của người tu hành đang sử dụng phần nhiều đều từ sự hỷ cúng của đàn na thí chủ. Cho nên khi mọi người nhận được bất cứ tài vật gì thì nên chia đều cho nhau. Không được lạm dụng của chung. Không được sanh lòng chiếm riêng cho mình hay phần nhiều về mình. Không vì tình riêng mà phân chia kẻ ít người nhiều, kẻ tốt người xấu. Phải lấy sự công bằng làm trọng.

Phương pháp này đối với người đời thì không thể đem tất cả tài sản để chia đều cho nhau, bởi mỗi người đều bỏ công sức tùy theo sự nhiều ít của mình để có được quyền lợi trong cuộc sống. Nhưng Lợi hòa đồng quân chúng ta được hiểu ở đây là nếu mọi người cùng ở trong một đoàn thể hay một công ty, nếu trong việc kinh doanh thu được lợi nhuận thì nên chia đều cho nhau, bởi ai cũng có đóng góp công sức vào trong đó. Không nên thấy mình có thế rồi không chia quyền lợi cho mọi người mà tự hưởng riêng một mình mình. Như thế thì sẽ tạo nên sự bất bình trong đoàn thể và cũng sẽ gây ra vấn đề tranh cãi. Cho nên trong quá trình làm việc chúng ta phải biết san sẻ trong mọi khó khăn cũng như trong các vấn đề quyền lợi.

Ở một khía cạnh khác, chúng ta được hiểu lợi hòa đồng quân là mọi người phải biết san sẻ cùng nhau trong mọi khó khăn của cuộc sống. Nếu mình có một bát cơm để ăn thì mình cũng nên tạo cho người khác có một bát cháo để họ đỡ lòng mà sống qua ngày. Chúng ta thấy miền Trung hay bị nhiều thiên tai lũ lụt khiến cho người dân nơi ấy mặc dù họ có cố gắng đến đâu cuối cùng cũng không có cơm để ăn trong những ngày bão lụt đang hoành hành người dân nơi ấy. Lúc này sự giúp đỡ, chia cơm sẻ áo là điều rất quan trọng và rất cần thiết. Bởi người dân Việt Nam chúng ta có những câu ca dao tục ngữ rất hay là “lá lành đùm lá rách, hoặc lá rách đùm lá nát”…Đây cũng chính là thể hiện được tinh thần Lục Hòa trong Phật giáo rồi.

IV. LỢI ÍCH KHI THỰC HÀNH PHÁP LỤC HÒA

Chúng ta thấy Tinh Thần Lục Hòa trong Phật giáo không phải chỉ áp dụng đối với người tu học giải thoát, mà nó còn đem lại không biết bao nhiêu lợi lạc cho quốc gia, cho xã hội loài người.

Từ hơn 25 thế kỷ qua, Lục hòa kính vẫn luôn là khuôn thước của người xuất gia, giúp cho đời sống trong Tăng đoàn luôn duy trì được sự hòa hợp, an vui. Hàng Tăng sĩ dù bất cứ ở thời đại nào đi nữa thì cũng cảm nhận rằng, đó không phải là một nguyên tắc khô khan cứng ngắt, mà là một lẽ sống, một lối sống đẹp, có tình có lý. Thời đức Phật còn tại thế, nếu không áp dụng pháp Lục Hòa kính thì Tăng đoàn không thể nào ổn định trật tự và đi vào nề nếp một cách thuận hợp, khi mà sự phân biệt giai cấp vốn là một tập quán (hay định chế) trong xã hội Ấn-độ thời bấy giờ.

Đối với tập thể Tăng già trong thời đức Phật khi còn tại thế, Ngài không dùng uy quyền thống trị, không dùng quyền lợi cám dỗ và cũng không dùng ân sủng thưởng ban, nhưng có mấy vạn Tăng Ni sống từng tập thể hòa hợp khắp nơi trên Ấn Độ. Mặc dù có nhiều người của nhiều giai cấp cùng sống chung với nhau, từ giai cấp thấp hèn là người thợ cắt tóc bần cùng như ngài Ưu Ba Ly hay hàng Bà La Môn hoặc hàng vua chúa quý tộc như Ngài Xá Lợi Phất hay Ngài Ca Diếp, Ngài A Nan… nhưng mọi người cũng có thể cùng sống chung với nhau và tu tập đạt đến chứng các địa vị thánh quả, tất cả cũng đều nhờ áp dụng tinh thần Lục Hòa này mà có được.

Không chỉ là như thế, nếu chúng ta biết vận dụng Lục hòa kính một cách thích hợp vào đời sống thường ngày, chắc chắn cũng sẽ đạt được sự hòa hợp với tất cả mọi người quanh ta. Trong lịch sử Việt Nam thời Lý, Trần; từ Vua, quan cho đến toàn dân cùng đồng lòng, hòa hợp, biết hy sinh cá nhân, đoàn kết mới tạo thành sức mạnh để chiến thắng ngoại xâm, tạo thành trang sử oai hùng của dân tộc Việt.

Nếu đem pháp Lục Hòa này áp dụng trong quá trình sinh hoạt Giáo hội thì chắc chắn công tác Phật sự thành công tốt đẹp. Và sự đóng góp của Giáo hội cho dân tộc mới thật sự mỹ mãn. Bởi Phật giáo không đi trước dân tộc, không đi sau dân tộc, không đi một bên dân tộc, mà Phật giáo chính thức đi giữa lòng dân tộc. Lịch sử cho thấy, Phật giáo không bao giờ đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc. Bởi vì:

“Việt Nam mình, Phật giáo mình

Tuy hai mà một ân tình sắc son.”

Đối với Phật giáo, bên trong luôn lấy tinh thần đoàn kết, hòa hợp, giải thoát làm cơ sở; bên ngoài lấy tinh thần phụng sự, góp phần xây dựng xã hội bằng những hình thức hoằng pháp, từ thiện, xây dựng nhân tâm làm mục tiêu hoạt động. Do đó, dân tộc Việt Nam luôn trân trọng và giữ gìn nét đẹp văn hóa Phật giáo đã có như ý nghĩa “mái chùa che chở hồn dân tộc”. Trong một quốc gia, nếu áp dụng được 6 pháp hòa kính như trên, nghĩa là cùng chung sống trong một đất nước, chúng ta phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau gìn giữ quê hương đất nước.

Mọi người nên khích lệ nhau giữ gìn pháp luật hiện hành, khuyến hóa nhau tu tập, bồi dưỡng đạo đức. Biết cùng nhau học hỏi, nâng cao trình độ văn hóa, mở rộng kiến thức. Người giàu phải biết giúp đỡ, sẻ chia với những người nghèo khó. Nếu đất nước biết áp dụng được 6 pháp hòa kính này thì chắc chắn sẽ xây dựng nên một quốc gia an bình, thịnh trị.

Đối với người Phật tử, nếu áp dụng đúng pháp Lục Hòa, thì sự tu hành mau được tiến bộ, con đường giải thoát gần hơn, và cảnh giới Cực Lạc không phải chỉ là một ước vọng. Đối với gia đình, mọi người không thể có hạnh phúc riêng cho mình nếu mỗi người không biết cùng nhau tạo ra một môi trường sống hòa hợp và gắn bó.

Với tầm quan trọng đó, việc giáo dục Lục hòa vào đời sống của mọi tầng lớp kể cả trường học là rất cần thiết, bởi Lục hòa đóng vai trò rất quan trọng cho việc giáo dục đạo đức nhân cách của mỗi con người, giải quyết vấn đề xung đột cấp bách của xã hội và đặc biệt là nạn bạo lực học đường đang diễn ra hằng ngày trong thế hệ trẻ ngày nay.

C. KẾT LUẬN

Phật giáo có chiều dài lịch sử của sự hình thành và phát triển. Khi truyền đến Việt Nam, qua bao thăng trầm của lịch sử đã xuất hiện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với phương châm “đoàn kết, hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội, hoằng pháp lợi sanh, thực hiện phương châm đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội.” Đã góp phần vào sự phát triển chung của đất nước và khẳng định giá trị của Phật giáo trong lòng dân tộc.

Mỗi người con Phật cần áp dụng tinh thần Lục Hòa vào ý thức hoạt động chung cho Giáo hội và lấy sự tu tập, trưởng dưỡng đạo tâm làm sự nghiệp của chính bản thân mình. Cùng nhau lấy sứ mạng hoằng dương chánh pháp để xây dựng và phát triển Giáo hội. Thiết nghĩ, đó cũng là nhiệm vụ không quá xa vời khi chúng ta cố gắng và kiên trì. Mong mỗi người Phật tử hãy cùng nhau áp dụng tinh thần Lục Hòa một cách triệt để, để đem lại lợi ích, hạnh phúc an lạc cho chính mình và cho mọi người.

Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội được an lành, do đó tinh thần Lục Hòa không thể thiếu đối với mọi người dân sống trong một xã hội.

Nhìn chung, tinh thần Lục hoà là bí quyết của hành vi ứng xử cao thượng của mọi cá nhân, là một nếp sống đẹp để xây dựng đời sống cộng đồng. Sáu nguyên tắc sống hoà hợp này không chỉ riêng áp dụng trong Thiền Môn, mà nó thích ứng trong mọi gia đình, học đường và bất cứ hoạt động tổ chức xã hội nào. Do đó, pháp Lục Hòa không thể thiếu đối với những con người muốn xây dựng nên một cuộc sống tốt đẹp.

“Hòa là sức mạnh vô song

Nương đây mọi việc thành công khó gì

Lục hòa yếu tố nhớ ghi

Đây là nền tảng dựng xây hòa bình”.

Sáu điều dạy trên nếu chúng ta thực hành một cách triệt để thì trong một gia đình, cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể đều được hòa thuận, yên vui, hạnh phúc và đặc biệt đối với nếp sống Tăng đoàn ngày càng thăng hoa trên lộ trình giải thoát. Hòa hợp có 2 nghĩa:

 1. Sự hòa hợp: Nêu cao trách nhiệm nếp sống Tăng già phải cụ túc lục hòa kỉnh pháp. Đây là giai đoạn tu tập trước tiên và căn bản để thành tựu kiến đạo vị. Nói cách khác, nhân cách của nếp sống Tăng đoàn bắt nguồn từ lục hòa kính pháp.

2. hòa hợp: Tức là đồng chứng đắc lý chơn như, có thể nói một người luôn sống đúng theo pháp Lục Hòa, không bao giờ làm phiền kẻ khác, người đó đã thành tựu trọn vẹn giới đức, tâm đức, và hạnh đức. Đức Phật dạy: “Nơi nào có lục hòa là nơi đó có những vị Bồ Tát sống, tuỳ duyên hoá độ chúng sanh, hướng dẫn họ thăng hoa trên lộ trình giác ngộ”. Nên nói, có Lục Hòa là có giải thoát Niết Bàn, có Lục Hòa thì không còn bóng dáng của phiền não đấu tranh.

Lục hoà là sáu yếu tố xây dựng Tăng đoàn, là thành tố hữu cơ dùng để bồi dưỡng cho cây cổ thụ Tăng đoàn phát triển.

Một xã hội lấy Lục Hòa làm chuẩn mực, thước đo cho đời sống thì xã hội hoàng kim, là chất keo tốt nhất gắn bó sự đoàn kết hòa hợp trong tập thể, là mô hình kiểu mẫu cho bất cứ một tổ chức nào muốn tồn tại vững mạnh.

Phật giáo Việt Nam với khẩu hiệu: “Đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội”. Phát huy truyền thống đó, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa Đạo Pháp và Dân Tộc, góp phần xây dựng một đất nước thạnh trị, thế giới hòa bình an lạc, đoàn kết từ ý chí đến hành động, việc làm.

“Thân hòa đồng nghiệp ở chung

Khẩu hòa đạo lý chuyên cùng đổi trao

Ý hòa hoan hỷ trước sau

Giới hòa gìn giữ Tăng đoàn nghiêm minh

Kiến hòa vì pháp lợi sinh

Lợi hòa thảo thuận bạn lành sớt chia”.

 

 

BÀI 2

    A. DẪN NHẬP

Trong cuộc sống của chúng ta, bất luận một đoàn thể, một quốc gia hay một tôn giáo nào muốn tồn tại và phát triển, cũng cần có một phương pháp cụ thể để cng cố nội bộ, nhằm định hướng cho sự phát triển và xây dựng cuộc sống hoàn thiện hơn. Bởi vì, trong sự sống chung đụng hàng ngày của nhân loại, thì sự bất hòa là điều không thể tránh khỏi và có tai hại rất lớn, nó khiến cho con người phải chia rẽ, xa cách. Nhận biết được tầm nguy hại của sự bất hòa cũng như những lợi ích của đức tính nhu hòa rất quan trọng và cần thiết trong cuộc sống tập thể, nên Đức Phật đã chế ra pháp Lục Hòa.

Mục đích của Đức Phật chế ra pháp Lục Hòa là nhằm để củng cố cho sự phát triển, sinh hoạt của Tăng đoàn và đó cũng là nền tảng đầu tiên cho hàng đệ tử Phật theo đó hành trì, để tập thể được hòa hợp và cùng nhau tu tiến nhằm đạt đến mục đích an lạc giải thoát.

B. NỘI DUNG

I. ĐỊNH NGHĨA

Lục là sáu; Hòa là hòa hợp, hòa kính.  Lục hòa là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa ở đây là hòa với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói gì cũng nghe. Hòa ở ở đây cũng không phải là phương tiện trong giai đoạn để rút thắng lợi về mình, rồi lại chiến. Hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi ích cho tất cả, đem hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bóng dáng “tự và tha”, không có so đo “ta và người”.

        Lục hòa là sáu nghệ thuật sống chung hòa hợp, thương yêu đùm bọc lẫn nhau từ vật chất đến tinh thần, từ cách tổ chức thảo luận cho đến giới pháp; là sáu nguyên tắc sống hòa hợp mà Đức Phật dạy chư Tăng nhằm hướng đến đời sống tịnh lạc và sự tăng thịnh của Tăng đoàn. Tất cả sống chung an lạc dưới mái ấm Thiền môn. Lục hòa là nhân, là phương pháp tu tập để đạt được an lạc.

     Lục hòa chẳng những đem lại đời sống tốt cho người xuất gia, mà còn là nền tảng căn bản của đạo Phật. Đây còn là bộ Luật đầu tiên của Tăng đoàn khi đức Phật chưa chế Giới, vì trong 13 năm đầu, đức Phật chưa chế Giới Luật, chư Tăng căn cứ trên 6 quy luật này mà vẫn sống an lạc thanh tịnh.

        Nội dung của pháp Lục Hòa gồm có 6 điều như sau:

1. Thân hòa đồng trú: có sự hòa hợp, hợp lý về chỗ ăn, chỗ ở, khéo an trú thân nghiệp.

     2. Khẩu hòa vô tránh: lời nói hòa hợp, không tranh cãi, khéo an trú khẩu nghiệp.

        3. Giới hòa đồng tu: cùng nhau giữ gìn một giới luật chung, an trú giới, giữ thanh tịnh giới.

     4. Lợi hòa đồng quân: cùng san sẻ các lợi dưỡng.

     5. Ý hòa đồng duyệt: an trú ý nghiệp, hòa hợp thống nhất.

6. Kiến hòa đồng giải: cùng với các vị đồng tu nuôi dưỡng những tri kiến thánh thiện đưa đến xuất ly khổ.

     Thế Tôn dạy tôn giả A-nan: sáu pháp hòa này sẽ đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất và đưa đến cho con người an lạc và hạnh phúc lâu dài.

II. NGUYÊN NHÂN ĐỨC PHẬT CHẾ PHÁP LỤC HÒA

Trong Kinh Trung Bộ I, bài kinh Kosambiya 48, trang 500 dạy rằng: Thuở Đức Thế Tôn còn tại thế, khi Ngài đang sống trong tịnh xá Ghosita, tại thành phố Kosambi. Ở đây, những vị đệ tử của Ngài, họ sống không hoà thuận với nhau, ngày nào cũng tranh cãi nhau, lời qua tiếng lại, họ đấu tranh nhau bằng vũ khí miệng lưỡi, ai cũng không chịu thua ai và cuối cùng đi đến sự đả thương, gây gổ lẫn nhau. Vì muốn có một cuộc sống tương thân tương ái trong cộng đồng Tăng, có một vài Tỷ Kheo trình bày chuyện này lên đức Thế Tôn hầu mong đức Phật khuyên giải. Nhân cơ hội này đức Phật dạy chư Tăng sáu pháp hoà kính để chư Tăng có một cuộc sống tương thân tương ái, tương kính hòa hợp, nhất trí với nhau.

     III. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHÁP LỤC HÒA

1. Thân hòa đồng trú

        Nếu cùng nhau chung sống trong một gia đình, một tổ chức, tập thể hay một ngôi chùa, đã ở chung như thế thì phải biết hòa thuận nhau, cùng chung làm việc, tự giác, ý thức trách nhiệm của mình, sẵn sàng chia sẻ khó khăn và giúp đỡ lẫn nhau, không lánh nặng tìm nhẹ, không được chia bè kết đảng, phe phái, giai cấp, chủng tộc, màu da, Tôn giáo hay ỷ mạnh hiếp yếu. Đồng thời phân phối chỗ ở, tiện nghi cư trú đồng đều hợp lý để mọi người đều có nơi ngủ nghỉ, có sẵn tiện nghi tu học như nhau. Nếu sự phân chia này thiếu cân xứng, không công bình thì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng và đi đến sự xung đột lẫn nhau.

Thực tế trong đời thường, mọi người sống chung trong một cộng đồng, một tập thể thì khó tránh khỏi đụng chạm bất hòa. Không có gì tai hại bằng sự bất hòa, bởi nó là ung nhọt trong sự sống và là nguyên nhân khiến mọi người phải xa nhau. Người xưa thường nói, chén úp trong xóng không thể nào không có tiếng khua, cũng vậy, con người sống chung thì khó tránh khỏi lời qua tiếng lại. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết nhường nhịn, kính trên nhường dưới, lắng nghe và chia sẽ trong tinh thần hòa hợp thì tất cả đều thuận duyên.

Hòa ở đây là hòa với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói quấy cũng ừ, nói phải cũng gật, cũng không phải là một phương tiện trong giai đoạn chờ thời, rồi lại chiến. Mà đức tính nhu hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi lạc cho tất cả.

Khi Phật còn là Thái tử, Ngài sinh hoạt theo hệ thống hoàng tộc với ngôi vị vương giả. Nhưng đến lúc xuất gia, Ngài xóa bỏ hết mọi giai cấp, hòa mình vào những người bạn đồng khổ hạnh, không đặt mình trên cương vị Thái tử hay vị vua tương lai. Thế nên, đức Phật đã thể hiện được tinh thần “Thân hòa” rất đậm nét và cụ thể nhất.

Do đó, chúng ta là hàng Phật tử tại gia cũng như xuất gia cùng ở chung với nhau dưới một mái chùa, mái nhà, tuy rằng không phải ruột thịt nhưng cũng là những người con chung của đức Phật, cùng chung một chí hướng mục đích, lý tưởng giải thoát giác ngộ thì phải lấy sự hòa kính làm đầu, không nên chia phe phái, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô, thể hiện đúng như câu ca dao:

“Mỗi người, mỗi nước, mỗi non

Khi vào cửa Phật là con một nhà”.

2. Khẩu hòa vô tranh

 Một người có hạnh nhẫn nhục cao, thì người đó rất dễ dàng thực hiện khẩu hòa, bởi vì người ta đau có tranh cải hơn thưa làm gì, cho nên cần phải trao dồi hạnh nhẫn nhục.

Trong kinh Giáo Giới La Hầu La đức Phật dạy rằng: “Này La Hầu La! Lời nói nào lợi ích cho mình, cho người, cho tất cả chúng sanh thì con hãy nói. Lời nói nào hại mình, hại người, hại tất cả chúng sanh thì con đừng nói”

Hãy nói với nhau một cách hòa nhã, lịch sự, nhẹ nhàng, từ tốn, khiêm cung, dù có điểm bất đồng cũng không dẫn đến tranh cãi, lớn tiếng. Người Phật tử nên biết rõ là “họa tùng khẩu xuất”, lại biết âm thanh ngôn ngữ là vô thường, luôn giữ khẩu nghiệp cho thanh tịnh, niệm một câu Phật tốt hơn là buông một lời xằng bậy hoặc ngôn ngữ tổn hại đến người khác.

Trong cuộc sống không ít người thân hòa mà khẩu bất hòa, ăn thua nhau từng lời nói, tìm cách mỉa mai đâm thọc nhau, cuối cùng sanh ra bất hòa. Tình trạng này rất nhiều, rất đáng buồn, từ bất hòa giữa bà mẹ chồng và nàng dâu đến những cặp vợ chồng đưa ra tòa ly dị, anh em xa lìa nhau, cha con không nhìn mặt nhau, thầy trò tránh né nhau, trở thành những kẻ xa lạ nhau. Thế nên Cổ đức có câu:

“Kim vàng ai nỡ uốn câu

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”.

Hay là :

“Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Nói ra lời nói thanh cao

Dịu dàng hòa nhã câu nào cũng hay”.

Thông thường khi bất hòa người đời đã thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, họ phát xuất ra những lời nói cay độc khiến đối phương phải đau khổ, thậm chí tuyệt vọng, mất mạng. Thế nhưng làm như vậy kẻ thua đau khổ đã đành, người thắng cũng chẳng vui sướng gì. Chưa nói đến nghiệp quả mà người đó phải chịu do gieo lời nói ác. Trong giáo pháp Thế Tôn dạy, hành giả phải dùng lời hòa ái để giải quyết những bất hòa xảy ra. Nói nhẹ nhàng hòa ái mà không sai sự thật, nói “trung ngôn” mà không “nghịch nhĩ” nói đúng lúc đúng thời.

Vua Pasenadi đã thốt lên khi một lần đến tịnh xá, đảnh lễ Đức Thế Tôn:“Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác; Pháp được Thế Tôn khéo giảng; chúng Tăng, đệ tử Phật khéo hành trì. Con thấy vua chúa cãi lộn vua chúa, Sát đế lợi cãi lộn Sát đế lợi, bạn bè cãi lộn bạn bè. Còn ở đây, con thấy các Tỳ Kheo sống với nhau với cặp mắt ái kính, con không thấy phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như thế”.

Nên đối với người đệ tử Phật, bất cứ duyên sự gì, ngôn ngữ cũng phải ôn hòa, nhã nhặn, phải nói năng như chánh pháp, im lặng như chánh pháp, có như vậy mới đem lại sự an lạc hạnh phúc cho tất cả. Sự tu tập Thân hòa - Khẩu hòa - phải xuất phát từ ý, nếu ý hòa thì sẽ dẫn đến thân hòa và khẩu đều hòa. Cho nên pháp hòa thứ 3 là Ý hòa đồng duyệt”.

     3. Ý hòa đồng duyệt

Luôn giữ tâm ý hòa hợp và cảm thông với nhau trong niềm vui chung. Đó là niềm vui cùng sống trong chánh pháp (pháp lạc), niềm vui có cùng lý tưởng hướng về giải thoát giác ngộ. Đây là niềm vui to lớn trùm lấp tất cả những dị biệt về thân phận, hoàn cảnh, danh, tướng, sở hữu, sở đắc. Với tâm vô ngã, người xuất gia trong giao tiếp, sinh hoạt Tăng-đoàn, luôn hòa vui với đồng môn, pháp lữ, chia sẻ và lắng nghe tâm tình và hoàn cảnh của kẻ khác. Trong khi đó người thế tục đi vào tập thể, nếu không thực tập vô ngã thì có mặt ở đâu cũng chỉ mong vui cho mình mà bất kể người khác, chỉ muốn mọi người phải tôn trọng và đối xử đặc biệt với mình. Vì lẽ đó nên cũng khó có thể tạo được “ý hòa”.

Dân gian thường nói: “chín người mười ý” nghe qua tưởng chừng như đơn giản nhưng muốn hòa hợp nhất trí thì khó vô cùng. Bởi mỗi người mỗi ý thì làm sao hòa thuận được? Như vậy, muốn ý hòa thì không có một cách nào khác hơn là đòi hỏi tự thân mỗi người phải có tình thương yêu lẫn nhau, phải biết khoan dung, cảm thông và tha thứ người khác. Khi có cảm thông tha thứ thì mới có sự hòa hợp trong tâm ý được.

Ý hòa cũng phải thật tâm thật ý, xuất phát từ đáy lòng. Nếu có sự hòa thuận gượng ép thì sự thuận hòa ấy chẳng khác nào một lớp sơn bóng loáng được phết lên một khúc gỗ mục, đến một lúc nào đó sự xung đột ngấm ngầm sẽ lộ ra trong những lời nói hay hành động, cũng như khúc gỗ khi đã mục nát thì lớp sơn đẹp cũng không còn. Thật ra, chính ngay cả trong mỗi con người chúng ta lắm lúc cũng mâu thuẫn, tư tưởng vừa qua khác hẳn với tư tưởng kế tiếp, bởi vì:

Con người ý vọng gồm hai

Khi mừng khi giận đổi thay khôn lường

Vội vàng khi ghét khi thương

Khi vui vui ngất khi buồn buồn thiu”

        Thế nên, Phật dạy mỗi người phải luôn giữ gìn cái tâm ý của mình cho thanh tịnh, đừng để nó khởi nghĩ những điều bất thiện xấu ác mà gây ra cảnh bất hòa chia rẽ với nhau. Ðược như vậy, thì bản thân, gia đình và xã hội mới có được một cuộc sống chung hòa hợp an vui và hạnh phúc.

     4. Giới hòa đồng tu

Chúng ta thường nghe nói:

“Nước không luật nước loạn

Nhà không luật nhà vong

Đoàn thể không luật đoàn thể tan rã

Tôn giáo không luật Tôn giáo không tồn tại”

Nói đến “giới hòa đồng tu”, chúng ta thường nghĩ ngay đến sự giới hạn trong phạm vi những người xuất gia. Tuy nhiên, khái niệm này cần phải mở rộng để vận dụng vào đời sống thế tục. “Giới” không chỉ là giới luật của người xuất gia, mà có thể được hiểu rộng hơn như là mọi khuôn thước, chuẩn mực mà những người trong một gia đình hay tập thể phải tuân theo.

Hiểu theo cách này thì trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có những “giới” khác nhau để tuân theo. Trong gia đình phải tuân theo gia quy, nề nếp sinh hoạt chung, ở trường học cũng phải tuân thủ theo nội quy kỷ luật. Hoặc khi tham gia giao thông, ta cũng phải tuân thủ luật giao thông...

Tất cả những chuẩn mực, khuôn thước đó đều là “giới”, bởi vì nếu mọi người trong cùng một môi trường mà không nghiêm túc tuân theo những chuẩn mực, khuôn thước ấy thì điều tất yếu là tập thể đó sẽ phải bị rối loạn, xung đột. Đối với Phật Giáo thì Giới Luật vô cùng quan trọng, Giới Luật để giúp cho Tăng, Ni, Phật tử có cuộc sống tốt đẹp, trang nghiêm tự thân, vững bước trên con đường an vui giác ngộ.

Giới là những quy luật đạo đức được xem là phương tiện để ngăn chặn và đoạn trừ những điều ác tác động qua thân, khẩu và ý. Giới Luật là mạng sống của người xuất gia, là căn bản của giải thoát, giữ gìn Giới Luật là bảo vệ ba nghiệp cho thanh tịnh, là nền tảng để tiến dần đến giải thoát giác ngộ

Nếu quốc gia có luật pháp, đoàn thể có kỷ luật thì trong tập thể Tăng đoàn phải có Giới Luật. Vì Giới Luật là nền tảng, là nấc thang đưa những người con Phật đến con đường giải thoát giác ngộ. Tuỳ theo căn cơ mà thọ lãnh ít nhiều giới, tại gia thì Tam Quy Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Thập Thiện Giới... đều thọ lãnh giới pháp, nhưng mục đích trì giới không ngoài ý nghĩa thanh tịnh hoá thân tâm. Đức Phật dạy: “Giới luật còn thì Phật Pháp còn, giới luật mất thì Phật Pháp diệt vong”. Mỗi người chúng ta đều mang hoài bão chấn hưng Phật Pháp, làm cho chánh pháp cửu trụ Ta bà thì nhiệm vụ tất yếu của chúng ta là phải duy trì sự hòa hợp và thanh tịnh trong Giới Luật. Trong Tam Vô Lậu Học thì Giới đứng đầu, nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Ba đời chư Phật nương nhờ Giới Luật mà thành tựu đạo quả vô thượng bồ đề. Cho nên nói:

Dục tu vô thượng Bồ đề

Tất dụng nghiêm trì Giới Luật.

Giới Luật nhược bất nghiêm trì

Bồ đề chung bất thành tựu.

5. Kiến hòa đồng giải

Kiến thức nào hay chớ ẩn im

Cùng nhau chỉ giải được hay thêm.

Một người thuyết pháp, muôn người thính

Một kẻ viết bài, tất cả xem.

Cuộc sống này có vô số điều mà người khác chưa hiểu biết, giáo lý của đức Phật cũng thậm thâm, mỗi người tiếp nhận khác nhau, vì vậy chúng ta nên trình bày quan điểm của mình cho mọi người cùng hiểu, nếu có sai cùng nhau sửa đổi. Do đó, sự trao đổi kiến thức với nhau là nền tảng để phát triển tiềm năng tri thức con người. Những thành quả mà ta đạt được hôm nay nó sẽ lạc hậu nếu như chúng ta chỉ biết an phận ở đó. Nhất là trong kho tàng giáo lý thâm sâu của đạo Phật, sự hiểu biết của một người dù thông minh thâm thuý đến đâu cũng không thể thấu hiểu một cách rốt ráo, vì thế cần phải trao đổi kiến thức với nhau.

Thực hiện được yếu tố thứ năm này chính là chúng ta đã phá vỡ được bức tường ngăn cách giữa mỗi con người trong lãnh vực kiến thức, xây dựng sự hoà hợp, đem kiến thức, sự hiểu biết phục vụ cho sự sống của con người.

Đối với người Phật tử, nên cùng chia sẻ, trao đổi với nhau một cách hòa hợp những hiểu biết và kinh nghiệm trong việc thực nghiệm chánh pháp. Hiểu biết và kinh nghiệm ấy không phải là vốn liếng riêng tư để bo bo gìn giữ mà kiếm sống như các nghề nghiệp chuyên môn của thế tục. Người tu học chỉ có kiến giải và kinh nghiệm tu tập hướng về mục tiêu giải thoát giác ngộ. Mục tiêu ấy chẳng phải là cõi trời hay thiên đàng nhỏ hẹp mà người đến trước giành chỗ tốt, người đến sau bị thiệt thòi. Thế nên, trong tinh thần vô ngã, người xuất gia có sự hiểu biết hay kinh nghiệm nào trong việc tu học cũng hết lòng chia sẻ, bàn bạc, lắng nghe, trao đổi, hướng dẫn, khuyến khích đồng môn pháp lữ của mình với tinh thần hòa kính. Tập thể thế tục muốn áp dụng “kiến hòa đồng giải” trước hết phải thực tập vô ngã, thấy rằng kiến thức và kinh nghiệm của thế gian đều là của chung, không giấu riêng cho mình một điều nhỏ nhặt hay bí hiểm nào để nuôi dưỡng, vinh danh một cái ngã huyễn vọng vô thường. Điều này có vẻ như rất khó đạt được sự tán thành của quan điểm thế tục. Vốn liếng tri thức là tài sản của mỗi cá nhân, thì đối với việc chia sẻ kiến thức tất nhiên không phải ai cũng có thể đồng ý. Ở đây chúng ta nên hiểu rằng, giá trị chân thật của đời sống tập thể không nằm ở kiến thức và lợi ích riêng cho bản thân mình mà là sự chia sẻ trong tinh thần hòa hợp. Do đó chúng ta cần nên giải bày sự hiểu biết của mình với tinh thần cùng nhau học hỏi, cùng nhau chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tô bồi kiến thức cho nhau để cùng nhau tu tập. Có như vậy thì sự tu học chung của chúng ta mới đưa đến tinh thần hoà hợp nhất trí. Ngược lại, nếu chúng ta là những người ích kỷ, thì sẽ sanh ra chia rẽ, bất hòa...

Hiện nay, đất nước đã và đang hội nhập quốc tế mạnh mẽ, giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục…, mang lại những cơ hội và thách thức rất lớn cho đất nước nói chung và Phật giáo nói riêng. Phật giáo phải đóng vai trò rất tích cực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần tạo dựng sự an lạc trong tinh thần và tâm linh, tôn vinh giá trị đạo đức cao đẹp. Do đây, sự trau dồi, học hỏi kiến thức với nhau là nền tảng để phát triển tiềm năng trí thức và đạo đức con người.

 Chúng ta là những người đang thừa hành pháp hạnh của Như Lai, thì ta phải hòa đồng ái kính, cần phải tiếp thu những ý kiến hợp lý, đúng chánh pháp, phù hợp với môi trường để làm lợi ích cho chính mình, cho người, cho xã hội và cho Phật pháp. Đây là tinh thần tiến thủ, biết tiếp nhận những kiến thức phong phú, làm cho Tăng đoàn ngày thêm cải tiến về tư tưởng và nhân cách sống. 

Có hòa hợp về kiến giải thì mọi người dễ dàng thông cảm và ít xảy ra những sự hiểu lầm đáng tiếc. Vì giáo lý của Phật như rừng thiền thăm thẳm, bể pháp rộng mênh mông, mỗi người có thể học hỏi một khía cạnh khác nhau, tìm ra một ý nghĩa có thể đúng nhưng cũng có thể sai, chúng ta phải đem trình bày quan điểm cho mọi người cùng xem, cùng hiểu. Nếu có sai cùng nhau sửa chữa cho hay thêm, tức là phải học hỏi nhau những gì tốt đẹp, sẵn lòng giúp đỡ, tô bồi kiến thức cho nhau, tránh đi trường hợp ích kỷ mà tạo ra sự tắt nghẽn giữa mối cảm thông, ảnh hưởng sự tiến hóa trên bước đường tu học.

6. Lợi hòa đồng quân

Như chúng ta thấy, năm yếu tố trên là nền tảng để phát triển đạo pháp hài hòa. Từ thân, khẩu, ý, giới đi đến kiến giải đã tạo cho mình cũng như cho đoàn thể sự phát triển sâu về cuộc sống, cũng như tâm linh, chăm sóc quan tâm nhau từ vật chất đến tinh thần, cùng nhau thọ dụng chung, không được chiếm hữu riêng biệt, hay dành phần nhiều cho mình.

Khi nói đến lợi hòa tức chỉ cho sự lợi dưỡng mà ta đang thọ nhận. Ở trong chùa hay tinh xá, nếu có ai cúng dường thì Tăng Ni cùng chia đồng đều nhau, không được người nhiều, kẻ ít.

Đức Phật dạy: “Hãy thừa tự Chánh pháp, không thừa tự tài vật”. Do đó, đối với người con Phật, nên xem quyền lợi tài vật như phương tiện cho cuộc sống. Nếu ta không ý thức cảnh giác thì phương tiện này thường đưa đến sự tranh chấp xung đột, mất lòng nhau. Nên chia sẻ cho nhau những quyền lợi vật chất một cách hợp lý, hài hòa, vui vẻ. Nói “quyền lợi” ở đây là nói một cách miễn cưỡng. Thực ra, theo sinh hoạt truyền thống của Tăng đoàn nguyên thủy thời Phật, Tăng sĩ là những người từ bỏ gia đình, sống hạnh khất thực, ngoài ba y, bình bát, tọa cụ, ngọa cụ, kim chỉ, đãy lọc nước, không có vật sản tư hữu nào khác. Một đời sống phạm hạnh, đạm bạc và không thủ đắc như vậy nên không bàn và nghĩ đến chuyện quyền lợi hay lợi dưỡng như ở thế gian. Nhưng ở thời đại ngày nay, hạnh khất sĩ vô sản không còn thích hợp. Tăng sĩ bây giờ sống ở tự viện, tu viện, giao tiếp xã hội, cần có những vật sản và tiền bạc theo nhu cầu, nhưng tinh thần luôn luôn là tinh thần vô sản, có nghĩa là sẵn sàng buông xả, bố thí, cúng dường tất cả những gì mà cá nhân mình đang nắm giữ.

 Người xuất gia đến và đi ở cõi đời này một cách vô ngã, vô ngã sở, vô vị lợi, cho nên có thể chia sẻ, san sớt, ban phát, cho đi, một cách hòa ái, vui vẻ, không vướng bận. Lợi hòa đồng quân có chỗ gọi là “đồng thí” – theo cách nói này, có thể hiểu sự tương giao của tập thể Tăng là để cho đi những gì mình có, chứ không phải để thủ đắc lợi dưỡng. Đến với nhau là để cho, để tặng, để thực hành hạnh buông xả - cũng là một cách để bỏ dần ngã chấp. Nếu không có tinh thần vô ngã, vị tha, sẽ không thể thực hành rốt ráo “lợi hòa đồng quân”.

Yếu tố này đối với Tăng đoàn đệ tử Phật thì phân chia để cùng nhau thọ hưởng một cách quân bình và là điều dễ dàng. Nhưng ngoài thế tục thì sao? làm sao chúng ta có thể chia sẻ đồng đều lợi ích với mọi người nếu như những người khác không chịu nỗ lực góp sức tương đương với chúng ta? Chúng ta cần phải hiểu rằng, giá trị chân thật của đời sống không nằm ở các giá trị vật chất mà đó là giá trị tinh thần hòa thuận và nếp sống thương yêu nhường nhịn cho nhau mới là giá trị lớn nhất. Cho nên không phải phân chia các lợi dưỡng ra các phần bằng nhau mới là hòa. Thông thường trong tập thể người ta xét theo cấp bậc, công sức mà phân chia đồng đều cho thích hợp. Điều quan trọng trước khi phân chia, ta phải làm sao cho mọi người đều hòa thuận và vui vẻ trước. Cho nên hòa đồng đều là hòa trong vui vẻ chứ không phải đợi phân chia ra các phần bằng nhau mới gọi là hòa. Khi có sự hoan hỷ mà phân chia thì mọi người không có ý nghĩ mình bị thiệt thòi.

Ví dụ: khi Cha mẹ phân chia tài sản cho con thì trước phải làm sao cho con hòa thuận trên dưới, biết thương yêu, nhường nhịn với nhau và vui vẻ rồi mới chia. Nếu không vui vẻ, không nhường nhịn và ghét nhau mà chia ra thì dù cha mẹ có phân chia các phần tài sản bằng nhau cũng gây ra bất hòa tranh dành đâm chém lẫn nhau.

Nếu chúng ta nói đến việc sống hòa hợp và chia sẻ với nhau mọi lợi ích vật chất, hầu hết những người bình thường đều sẽ thấy là không hợp lý, vì rõ ràng là năng lực cũng như hiệu quả làm việc của mỗi người trong tập thể đều không giống nhau, làm sao có thể chia sẻ đồng đều như nhau? Nguyên tắc này chỉ có thể được chấp nhận khi đời sống của mọi người đều dựa trên chuẩn mực của những giá trị tinh thần như lòng từ bi, đức nhẫn nhục... mà không phải là các giá trị vật chất nhìn thấy được.

Đời sống của chư Tăng hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đó. Các vị đều đã buông bỏ đời sống thế tục, buông bỏ mọi tài sản vật chất của thế gian để bước vào đời sống xuất gia, đời sống không có tư hữu. Mục tiêu theo đuổi của các vị không phải là những sự hưởng thụ vật chất tầm thường, mà là sự tôi luyện một tinh thần hướng thiện, tu dưỡng mọi đức tính để đạt đến đời sống an vui, giải thoát. Xuất phát từ nền tảng đó, các vị mới có thể tiếp nhận và thực hành các nguyên tắc hòa kính một cách phù hợp và hiệu quả. Đây là lý do giải thích vì sao từ xưa đến nay Lục hòa kính chỉ được vận dụng chủ yếu trong Tăng đoàn.

Điểm qua ý nghĩa thâm sâu của Lục Hòa như vậy, một mặt để tán dương phương thức kỳ diệu của đức Thế Tôn nhằm hướng dẫn một đời sống tập thể hòa hợp, lại vừa là một pháp môn tu cho mỗi cá nhân khi đi vào biển lớn của Tăng-đoàn; mặt khác, cũng để khơi dậy niềm tin tưởng mãnh liệt về sức mạnh hòa hợp của Tăng-già. Sức mạnh ấy có thể hóa giải tất cả mọi dị biệt, chấp tranh, mâu thuẫn mà không một tập thể thế tục nào có thể làm nổi. Sức mạnh ấy, khởi động chỉ bằng một ý niệm: vô ngã. Nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là những người bình thường không thể thấy được giá trị tích cực của những nguyên tắc hòa kính. Vấn đề ở đây là, trong đời sống đầy dẫy ý thức tư hữu, chúng ta cần biết vận dụng chúng như thế nào cho phù hợp với đời sống thực tế của mỗi người, trong gia đình cũng như trong cộng đồng xã hội để thăng hoa đời sống của mình.

        Khi chúng ta chấp nhận Lục hòa kính như là kim chỉ nam của cuộc sống chung giữa mọi người, chúng ta sẽ luôn hướng đến sự hòa hợp. Ngay cả khi ta chưa thực sự đạt được sự hòa hợp và không nên đòi hỏi điều đó một cách tuyệt đối, thì chắc chắn chúng ta cũng luôn có thể làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, và quan hệ giữa mọi người với ta cũng ngày càng gắn bó, cảm thông nhau nhiều hơn.

     IV. ỨNG DỤNG LỤC HÒA TRONG CUỘC SỐNG

        Trong đời sống gia đình của người cư sĩ tại gia, các mối quan hệ đều cần thiết sự hòa thuận, ái kính lẫn nhau. Vì có hòa thuận, ái kính, thương yêu đùm bọc lẫn nhau thì gia đình mới đầm ấm, vui vẻ hạnh phúc. Gia đình không có hạnh phúc là khi có những sự bất mãn, mâu thuẫn, xung đột đang chi phối. Dù là bất hòa ở phương diện nào, với mức độ nào cũng là điều không nên có. Vì bất mãn, mâu thuẩn trong lòng sẽ dẫn đến hành động xung đột, và một bất hòa nhỏ vẫn có thể dẫn đến mọi xung đột xảy ra.

Dĩ nhiên con người không ai giống ai hoàn toàn về nhân cách, cá tính, về trình độ hiểu biết, tư tưởng nhận thức, nhưng con người thông cảm cho nhau là điều có thể. Và tính cách không tốt vẫn có thể thay đổi được nếu con người quyết tâm cải tạo chính mình.

        Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ xuýt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em: “nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ?” Nên Nguyễn Huệ cảm động rồi cả hai hòa nhau.

        Ở tỉnh Bình Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai gì thì lột da ra làm nồi mà nấu thịt. Do đó ca dao Bình Định có câu:

Da nai mà nấu thịt nai,

Việc đời như thế không ai động lòng.

Thịt nai mà chín bên trong,

Da nai cũng cháy còn mong nỗi gì!

           Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người Bình Định đem lời đó diễn bằng câu ca dao:

Lỗi lầm anh vẫn là anh,

Nồi da xáo thịt sao đành hỡi em?

        Đời nhà Nguyễn (1802-1945) vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của mình. Một hôm, trong một buổi chầu, nhà vua vô ý để răng cắn nhằm lưỡi mới khiến quần thần làm bài thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng "Răng", "Lưỡi". Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:

“Ngã sinh chi sơ nhữ vị sinh,

Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh.

Bất tư cộng hưởng trân cam vị;

Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.”

     Tạm dịch:

Thuở tớ sinh ra, mày chửa sinh,

Mày sinh sau tớ, tớ là anh.

Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,

Xương thịt đành tâm nỡ dứt tình.

Nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng vì cho bài thơ có ý "móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một roi.

        "Nồi da xáo thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích này đều có một ý nghĩa như nhau.

Chúng ta biết rằng khi đã cùng chung sống dưới một mái gia đình thì không thể có hạnh phúc riêng cho mỗi người nếu mọi người không cùng nhau tạo ra được một môi trường sống hòa hợp và gắn bó. Cách hiểu như thế không gì xa lạ mà chính là nguyên tắc “thân hòa đồng trú” chúng ta đã bàn đến. Hơn thế nữa, chúng ta còn có thể vận dụng cách hiểu này trong quan hệ với mọi người ở nơi làm việc hay bất cứ tập thể nào mà chúng ta tham gia, điều đó rất thích ứng với các nguyên tắc tâm lý mà các nhà giáo dục tâm lý hiện đại giáo dục cho các sinh hoạt tập thể. Như trong một lớp học, nếu học đường áp dụng nghĩa “hòa” của “Thân hòa” vào đồng phục cho học sinh thì sẽ giúp cho tuổi trẻ đoàn kết, thân mật nhau, đến gần nhau hơn, không phân rẽ thành nhiều nhóm do ăn mặc xấu, đẹp, sang, hèn khác nhau. Tuổi trẻ cần được giáo dục tinh thần hòa hợp, đoàn kết ngay từ bây giờ.

        Thân cùng ở trong một nhà, làng xóm, khu phố, đất nước: “Bán bà con xa, mua láng giềng gần.” hoặc “Tối lửa tắt đèn có nhau”, chứ không còn trường hợp nhà bên cạnh xảy ra chuyện gì mặc kệ, không quan tâm giúp đỡ; hoặc trong một khu phố, xây dựng lấn chiếm trái phép, cản trở khó khăn cho sự đi lại.

        Thể hiện khẩu hòa là mọi người biết thận trọng và khéo léo trong lời nói, hạn chế mọi sự tranh cãi và luôn tôn trọng, lắng nghe người khác. Lời nói hòa hợp không chỉ cần thiết cho một gia đình hạnh phúc, mà cũng là nhân tố thiết yếu cho bất cứ tập thể hòa hợp nào. Với một đạo tràng tu tập, hay trong sinh hoạt tập thể, trong giờ bàn bạc, thảo luận, mọi người cần được giáo dục nguyên tắc "Khẩu hòa", biết cách phát biểu ý kiến của mình nhưng đồng thời cũng phải biết tôn trọng ý kiến của các người khác, không được nặng lời chỉ trích, đả kích v.v...

        Thái độ chỉ trích, đả kích chỉ đem lại không khí nặng nề, bất hòa cho sinh hoạt tập thể, và làm trở ngai nội dung của đề tài thảo luận. Trái lại, trong không khí hòa hợp, tương kính của thảo luận, mọi người sẽ đón nhận được cảm giác an ổn, hạnh phúc của sinh hoạt tập thể. Vì thế, nếu chúng ta có thể luôn noi theo khuynh hướng này trong việc nói năng, tiếp xúc cùng mọi người quanh ta, điều tất nhiên là chúng ta sẽ góp phần tạo ra môi trường hòa hợp chung cho tất cả mọi người. Cho dù chúng ta chưa tạo ra được một tập thể hoàn toàn hòa hợp, nhưng sự đóng góp tích cực của khuynh hướng này là không thể phủ nhận.

Trong gia đình, mục tiêu tốt cần hướng đến là hạnh phúc gia đình. Nếu không có “Khẩu hòa vô tránh” thì vợ chồng luôn đấu khẩu, con cái cãi vã không nhường nhịn nhau. Ông bà ta thường nhắc nhở:

“Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hòa đá nhau”

     Hay

“Cơm sôi bớt lửa.”

Thay vì thốt ra những lời cay đắng, xúc phạm, làm đau lòng nhau, sứt mẻ tình cảm gia đình thì mỗi thành viên trong gia đình nói lời thân mật dịu dàng, ôn hòa nhỏ nhẹ để quan tâm, khuyên nhắc lẫn nhau. Đạo tràng 5, 7 người buôn dưa hấu bán dưa lê làm ảnh hưởng, phá hoại người khác tu tập như thế nào?

Về ý, chúng ta không thể “Bằng mặt không bằng lòng”, mà quan tâm giúp đỡ và phục vụ lẫn nhau trong công việc, tạo ra được sự đồng lòng nhất trí trong mọi công việc chung của gia đình hoặc tập thể, đó là noi theo nguyên tắc “ý hòa đồng duyệt”. Ta thường nghe câu: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”: Nếu có “Ý hòa đồng duyệt”, không độc đoán, bảo thủ, cố chấp, biết tôn trọng ý kiến, suy nghĩ, cảm nhận của người khác, không khư khư bảo vệ ý kiến của riêng mình thì không có đấu khẩu, không có hành động xung đột. Hễ có ý hòa thì có khẩu hòa, có thân hòa. Phải biết kềm chế, làm chủ tư tưởng và hành động, làm chủ cảm xúc. Phải biết thông cảm và tha thứ. Nếu mọi người trong gia đình đều noi theo khuynh hướng này, công việc dù có khó khăn đến đâu cũng đều có thể cùng nhau vượt qua, và ngay cả khi có thất bại cũng không vì thế mà tổn hại đến hòa khí trong gia đình. Mỗi người đều biết nhận lấy phần trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho nhau nên sẽ không bao giờ có sự trách móc lẫn nhau.

        Về "Ý hòa" trong lớp học, học đường cần dạy tuổi trẻ thành thật với nhau, chấp nhận nhau, kính trọng nhau, cùng nhau xây dựng tinh thần hòa hợp, đoàn kết. Có thành ý xây dựng, học tập như thế thì mục tiêu giáo dục của học đường mới thực sự thành tựu.

        Đối với một tập thể, hay rộng hơn là trong một quốc gia, một dân tộc, mối quan hệ gắn bó lẫn nhau theo khuynh hướng này cũng là yêu cầu tất yếu để có thể tạo ra được sự hòa hợp và đoàn kết.

        Đối với đất nước chúng ta, Trang sử Việt hào hùng với lịch sử chiến thắng ngoại xâm, từ xưa đến nay từng đánh bại những đế quốc hùng mạnh nhất thế giới đều nhờ sự đoàn kết toàn dân. Hơn 2.000 năm đồng hành cùng dân tộc”, “Trang sử Phật/Đồng thời là trang sử Việt” (Hồ Dzếnh). Đỉnh cao của “ý hòa đồng duyệt” trong lịch sử dân tộc đã được thể hiện ở cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông (3 lần đánh tan quân Nguyên). Trước âm mưu xâm lược của Nhà Nguyên ngày càng lộ rõ, tháng 10 (1282) vua Trần tổ chức hội nghị Bình Than cùng triều đình và các vương hầu bàn kế chống giặc. Vị tướng tài Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn quân. Hội nghị vương hầu bách quan ở Bình Than có mục đích “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu”. Trần Quốc Toản tuy tuổi còn nhỏ, không được dự họp đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết. Sau đó Quốc Toản trở về lập một đội quân hơn nghìn người, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền chờ ngày giết giặc cứu nước. Trên lá cờ của người thiếu niên anh dũng đó có 6 chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua).

        Sau đó vua Trần cho triệu tập hội nghị Diên Hồng lịch sử, nhằm động viên sự nhất trí chống giặc trong nhân dân. Yến tiệc được mở ra tại thềm điện Diên Hồng, Vua hỏi các bô lão: “Thế giặc mạnh, chúng ta nên hòa hay nên đánh?”. Trả lời cho câu hỏi của vua Trần là tiếng hô vang của hàng vạn phụ lão “Đánh, Đánh”, “vạn người cùng nói như từ một miệng”. Tiếng hô “Đánh” của các phụ lão ở điện Diên Hồng biểu lộ tinh thần quyết chiến của toàn dân Đại Việt. Những bậc phụ lão, những đại biểu có uy tín của nhân dân đã nói lên tiếng nói của cả dân tộc.

        Kết quả của “ý hòa đồng duyệt”, Hội nghị Diên Hồng là một cuộc họp mặt đại biểu rộng khắp của toàn dân - độc nhất vô nhị trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các bô lão đã mang tới cho vua Trần và triều đình câu trả lời quyết chiến của nhân dân ở các lộ trong cả nước, và cũng mang từ Thăng Long về mọi miền quê cái không khí quyết tâm chống giặc giữ nước của hội nghị Diên Hồng và quyết tâm của Triều đình.

        Cuối cùng, cả ba lần xâm lược, quân Nguyên Mông đều thất bại và từ bỏ ý định xâm lược nước Nam. Vì vậy, “ý hòa đồng duyệt” là nguyên tắc cần được thực hiện ngay cả cho sự hợp tác lớn hơn của các quốc gia vì một sự hòa bình ổn định, cùng phát triển.

        Nguyên tắc thứ năm là về giới. Môi trường nào cũng đều có những “giới” nhất định cần phải tuân theo. Nói đến nguyên tắc “giới hòa đồng tu”, chúng ta thường nghĩ ngay đến sự giới hạn trong phạm vi những người xuất gia. Tuy nhiên, khái niệm này thật ra hoàn toàn có thể - và cần phải - mở rộng để vận dụng vào đời sống thế tục. “Giới” không chỉ là giới luật của người xuất gia, mà có thể được hiểu rộng hơn như là mọi khuôn thước, chuẩn mực mà những người trong một gia đình hay tập thể phải tuân theo. Trong đời sống tu hành của người xuất gia, giới pháp là mục tiêu hướng đến để hoàn thiện. Trong đời sống gia đình, mục tiêu hướng đến là một đời sống hạnh phúc, thỏa mãn những nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Hiểu theo cách này thì trong mọi môi trường, mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có những “giới” khác nhau để tuân theo.

Khi tham gia giao thông, ta phải tuân thủ luật đi đường; khi làm việc phải tôn trọng những quy định về an toàn lao động; khi về nhà phải tuân theo nề nếp sinh hoạt chung trong gia đình... Tất cả những chuẩn mực, khuôn thước đó đều là “giới”. Bởi vì nếu mọi người trong cùng một môi trường, hoàn cảnh mà không nghiêm túc tuân theo những chuẩn mực, khuôn thước ấy thì điều tất yếu là tập thể đó sẽ phải bị rối loạn, xung đột.

Người tại gia cũng có thể thực hành "Giới hòa đồng tu" theo cách của người xuất gia để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho gia đình mình, bằng cách tu tập hành trì giới pháp với khả năng, điều kiện vốn có của mình.

        Mặt khác, khái niệm “tu” cũng không chỉ dành riêng cho người xuất gia. Tu có nghĩa là sửa chữa, là điều chỉnh sự sai lầm, làm cho trở nên tốt hơn, hoàn thiện hơn. Hiểu theo nghĩa như vậy thì tất cả chúng ta cũng đều đang tu, không chỉ là các vị xuất gia. Chỉ có điều là các vị xuất gia tu học theo điều kiện và môi trường, chí hướng thoát trần của họ. Còn chúng ta chỉ tu để sửa chữa, loại bỏ dần những sai lầm, khuyết điểm trong đời sống của mình mà thôi.

        Như vậy, “giới hòa đồng tu” cũng là một nguyên tắc vô cùng tích cực đối với đời sống thế tục của chúng ta. Nếu mọi người trong gia đình hay một tập thể, một đạo tràng… đều nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng những khuôn thước, nề nếp hay chuẩn mực chung và cùng khuyến khích nhau sửa chữa mọi sai lầm, khuyết điểm, thì gia đình hay tập thể đó chắc chắn sẽ sớm trở thành một môi trường hòa hợp, gắn bó mọi người với nhau để cùng tiến bộ.

        "Giới hòa" trong một lớp học là các em học sinh đều đặt mình trong một kỷ luật chung của học đường, cùng nỗ lực tôn trọng kỷ luật, bảo vệ kỷ luật học đường để việc học và dạy có hiệu quả tốt. Trong điều kiện sống giống nhau đó, các em dễ gần nhau, dễ hòa hợp và đoàn kết. “Giới hòa” trong một tổ chức, công ty, xí nghiệp thể hiện ở việc các thành viên tuân thủ theo những nội quy, quy định mà tổ chức ấy đề ra. “Giới hòa” trong xã hội thể hiện ở việc, nếu mọi người đều sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật thì xã hội trật tự, bình an.

        Để hướng đến mục tiêu tốt, con người phải gạt bỏ thành kiến, lòng ích kỷ hẹp hòi và quên đi tư lợi. Có như thế mới có thể hòa thuận, ái kính, đoàn kết với nhau. Trong gia đình chúng ta, cha nói một đường, mẹ nói một nẻo thì con cái biết nghe ai, cha đúng hay mẹ đúng để mà nghe đây? Do vậy, “kiến hòa đồng giải” là một pháp căn bản cho mỗi Phật tử cần phải biết để giữ được hòa khí mà tinh tấn tu tập. Trong quan hệ giữa mọi người trong gia đình, nếu chúng ta luôn ý thức được mục tiêu của đời sống hạnh phúc là sự hiểu biết lẫn nhau, đối diện với mọi bất đồng để cùng nhau giải quyết và hướng đến cuộc sống chung hòa hợp, chúng ta sẽ luôn tránh xa thái độ sống cách biệt, thiếu cảm thông và thờ ơ lạnh nhạt.

        Để có được “Kiến hòa đồng giải” trong đời sống gia đình cần phải tìm hiểu lẫn nhau để dễ dàng thông cảm cho nhau. Khéo léo đóng góp ý kiến, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác, trao đổi với nhau, san sẻ tư tưởng tình cảm để có thể chấp nhận nhau, gắn bó với nhau. Sống hòa thuận, kính trên nhường dưới, yêu thương tôn trọng lẫn nhau là nét đẹp văn hóa, đạo đức mang lại niềm vui, hạnh phúc gia đình.

        Tinh thần "Kiến hòa" rất cần thiết trong học đường. Sự khác biệt về màu áo cũng đủ khiến tuổi trẻ tách rời thành nhiều nhóm nhỏ, huống chi là sự khác biệt về tư tưởng hay tín ngưỡng. Học đường cần nhận rõ vai trò giáo dục của mình là gieo thêm ý thức đoàn kết dân tộc cho tuổi trẻ, cần phải tế nhị tạo ra một nhận thức xem như là một loại triết lý giáo dục, làm thế nào để các em, trong điều kiện khác biệt về tư tưởng, tín ngưỡng có thể đến gần nhau, thân mật, hòa hợp, đoàn kết. Ðây là ý nghĩa "kiến hòa đồng giải".

        Trong một công ty mà chủ, tớ, cán bộ, công nhân, do kiến giải bất đồng thì đơn vị đó không hoạt động tốt, thế cho nên, trong mọi vấn đề khi bàn bạc với nhau, trình bày ý kiến, lấy hết ý kiến tất cả mọi người và thống nhất lại thành một ý kiến chung cho tập thể đồng làm theo.

        Cùng quan tâm san sẻ với nhau trong đời sống vật chất lẫn tinh thần, đó là tinh thần “Lợi hòa đồng quân”. Mọi người không tính toán, so đo hơn thiệt, cùng làm cùng hưởng thành quả lao động một cách công bằng, hợp lý, không chia rẽ, không phân biệt, không tranh chấp lấn lướt nhau, không để cho một ai phải chịu thiệt thòi.

        Hai nguyên tắc cuối cùng là “kiến hòa đồng giải” và “lợi hòa đồng quân” có vẻ như rất khó đạt được sự tán thành quan điểm của thế tục. Trong khi mọi người đều cho rằng vốn liếng tri thức là tài sản của mỗi cá nhân, thì đối với việc chia sẻ kiến thức tất nhiên không phải ai cũng có thể đồng ý. Hơn thế nữa, vấn đề đặt ra là nếu chúng ta chấp nhận việc chia sẻ kiến thức trong khi những người khác lại không làm như thế thì sao? Mặt khác, làm sao chúng ta có thể chia sẻ đồng đều lợi ích với mọi người nếu như những người khác không chịu nỗ lực góp sức tương đương với chúng ta? Câu trả lời ở đây là: chúng ta cần phải thuyết phục mọi người thấy được giá trị chân thật của đời sống không nằm ở các giá trị vật chất, và vì thế mà cái gọi là “thiệt thòi” về mặt vật chất chưa hẳn đã là thua thiệt. Nhưng làm thế nào để thuyết phục những người khác tin tưởng và thực hiện theo những nguyên tắc mà chúng ta cho là đúng đắn? Trước hết, bản thân chúng ta phải là người áp dụng 6 nguyên tắc này trong cuộc sống.

        Có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa của "Lục hòa" là khi nói đến Hòa là xác nhận sự bất đồng. Từ các tổ chức như gia đình, học đường, công ty, xí nghiệp,…mọi người phải biết áp dụng tinh thần vừa tôn trọng cá nhân, cá tính của từng người, nhưng vừa áp dụng, giáo dục thế nào để cá tính phát triển tốt trong không khí hòa hợp ấy. Hòa mà không Ðồng thì đánh mất hết mọi ý nghĩa của lục hòa. Do đó, hòa vì thương kính, hòa vì khiêm cung, hòa vì đó là lối sống văn hóa, là một nghệ thuật ứng xử đẹp, để mọi người biết kính trọng suy tư, tình cảm, tư tưởng v.v... của kẻ khác, một mặt biết hòa hợp trong tập thể những cá tính khác biệt ấy, mục đích cuối cùng là tất cả, mình và người đều được bình an, tiến bộ.

V. TÁC DỤNG CỦA LỤC HÒA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TRONG ĐẠO

     Lục hòa chia ra 2 khía cạnh:

Về Tự thân: gồm thân, khẩu, ý. Đưa đến hành xử của cộng đồng: gồm kiến, giới, lợi.

Lục hòa đối với cá nhân là một công dân tốt trong xã hội, gương mẫu, tuân nội quy, đoàn kết để xây dựng khu phố… Lợi lạc cho bản thân họ, chuyển người xấu thành người tốt. Con người áp dụng tốt thì ảnh hưởng đến gia đình:  an lạc, hạnh phúc, hưng thạnh.

        Lợi ích bên ngoài: chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, thôn văn hóa, khu phố văn hóa là khu phố người dân có ý thức, không gây gỗ cãi nhau, tác động trực tiếp lên xã hội: yên bình, hạnh phúc.

     Đối với đạo: “Phật pháp hưng thịnh do Tăng-Ni hòa hợp”

           Chữ Tăng có nghĩa là hòa hợp, thanh tịnh, không hòa hợp thì không thanh tịnh, và không thể là Tăng được. Tăng đoàn: lợi ích lớn cho người xuất gia khi tồn tại trong xã hội, cũng như giúp Tăng đoàn phát triển.

        Đối với đạo tràng tu tập, áp dụng Lục Hòa đem đến sự sinh động, hưng thịnh, ổn định cho đạo tràng đó, đồng thời đem lại sự tiến bộ, thăng tiến trong đời sống tâm linh cho mỗi Phật tử. Đây cũng là yếu tố làm cho Phật pháp hưng thịnh.

Tác dụng của Lục Hòa lan tỏa từ trong đạo ra ngoài xã hội. Mang lại giá trị ổn định về mặt tổ chức, ổn định về mặt đời sống cho xã hội và sự phát triển của Tăng đoàn. Bất cứ tổ chức, quốc gia nào cũng đi theo quỹ đạo này.

        Đoàn kết là sản phẩm của lục hòa. Lợi ích của đoàn kết và tác hại của không đoàn kết như những mẫu chuyện mà chúng ta đã được nghe: câu chuyện minh họa bó đũa. Đoàn kết là một sức mạnh phi thường, không việc gì làm chẳng được. Câu chuyện ngài Mục-kiền-liên cầu Phật dạy phương pháp cứu mẹ đang mắc trong vòng ngạ quỉ, Phật bảo Ngài đi thỉnh muời phương Tăng chúng cúng dường, nhờ sức chú nguyện của chúng Tăng, mẹ Ngài sẽ thoát vòng đau khổ. Tại sao ngài Mục-kiền-liên đầy đủ thần thông, đức Phật có vô biên công đức mà không đích thân ra tay cứu độ cho mẹ ngài Mục-kiền-liên, phải đợi đến sức chú nguyện của Tăng chúng? Điều này đủ chứng tỏ Phật dạy đoàn kết là sức mạnh trên tất cả sức mạnh. Vì ý nghĩa này nên Phật giáo chủ trương “Đức chúng như hải”. Bởi Phật giáo chủ trương hòa kính để đi đến đoàn kết nên rất thích hợp với tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Như vậy, Lục Hòa nếu áp dụng cho mọi đối tượng sẽ đem lại lợi ích lớn.

            C. KẾT LUẬN

         Sáu điều dạy trên đây, nếu chúng ta thực hiện một cách triệt để thì trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng, anh em, mọi tổ chức, mọi đoàn thể, đều được hòa thuận yên vui, gia nghiệp mỗi ngày một thịnh đạt, quốc gia được hùng cường, thịnh trị, thế giới được hòa bình, an lạc.

Riêng về trong giới Phật tử chúng ta, nếu áp dụng đúng đắn pháp "Lục hòa", thì sự tu học của chúng ta mau được tiến bộ, con đường giải thoát được gần hơn, và cảnh giới Cực lạc không phải chỉ là một ước vọng.

Ngược lại, nếu không tôn trọng và sống theo Lục Hòa thì không thể xây dựng nên một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc, không thể tạo nên một đời sống tu học hòa hợp an lạc, giải thoát được. Vì Lục Hòa là nền tảng, là cội gốc để đình chỉ mọi sự chênh lệch, hơn thua, tranh đấu, bạo lực, thù hằn. Pháp Lục Hòa này cũng chính là nền tảng của sự đoàn kết, là sức mạnh của lý trí, là hạnh phúc yên bình.

            Lục hòa là sáu phương pháp tu học, là một phương châm đúng đắn không phải chỉ thời đức Phật, cũng không phải chỉ dành riêng cho hành giả tu học, mà tất cả mọi cá nhân, tổ chức, mọi tập thể muốn tồn tại và phát triển ổn định đều phải áp dụng Lục Hòa. Lục hòa hôm nay và mãi mãi về sau vẫn là một chân lý, một đời sống phạm hạnh, góp phần tạo đời sống an lạc giải thoát.

 

 

BÀI 3

A. DẪN NHẬP

Trong cuộc sống hằng ngày, thông qua hình thức giao tiếp, đối đãi phân biệt thì những điều tai hại từ sự thiếu hòa kính nên đưa đến thù hận, ganh ghét làm khổ cho nhau. Bất cứ cuộc sống nào dù đơn lẻ hay tập thể, đều phải có những điều kiện thống nhất, hòa hợp tạo thành một sức mạnh đưa đến sự thành công.

Chúng ta thử xem trong một cơ quan tổ chức, đoàn thể nào có những kẻ xu nịnh a dua, suốt ngày cứ tâu nói để làm hại những người ngay thẳng để đem lại lợi ích cho mình, thử hỏi đoàn thể ấy, cơ quan kia… có giữ được nền móng lâu dài bền chắc hay không? Chắc chắn là không, mà sẽ dần dần đi đến chia rẽ và sụp đổ.

Trong đạo Phật, Đức Phật, ngay từ buổi đầu đối với năm anh em ông Kiều Trần Như, Ngài đã hướng dẫn họ sống bằng pháp Lục Hòa để làm phương châm cho nếp sống Tăng đoàn. Lục Hòa cũng chính là những cương yếu bất di bất dịch, hướng dẫn Tăng đoàn, giáo hoá chúng sanh. Lục Hòa còn chính là Giới luật khởi nguyên căn bản trong Tăng đoàn của Đạo Phật.

           B. NỘI DUNG

            I. ĐỊNH NGHĨA

Lục là sáu. Hòa là hòa hợp, hòa thuận. Lục Hòa là sáu nghệ thuật sống cao đẹp, là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa có nghĩa là không chống trái, không xung đột, không hiềm khích nhau, không hại nhau mà phải chân thành thương yêu, giúp đỡ, đùm bọc, tha thứ, nhường nhịn nhau…

Hòa ở đây là dựa trên nền tảng của trí tuệ và từ bi, bình đẳng, có mục đích tiến tới chỗ cao đẹp, giải thoát, chứ không phải hòa một cách nhu nhược, yếu hèn hay ai nói gì, làm gì mình cũng theo mà không biết phải trái, thiện ác.

II. NGUYÊN NHÂN ĐỨC PHẬT CHẾ PHÁP LỤC HÒA

Trong 12 năm đầu kể từ khi thành lập Tăng đoàn, đức Phật chưa chế Giới luật. Bởi vì trong 12 năm này chư Tăng sống trong thanh tịnh, an lạc, mọi người chủ yếu là sống với nhau trong tinh thần lục hòa cộng trụ. Qua năm thứ 13, Tăng chúng đông dần, do đó mà có các việc hữu lậu nảy sinh trong Tăng đoàn, nhân đây mà đức Phật đã chế Giới để ngăn chặn những pháp hữu lậu thế gian, không cho nó phát sanh. Cho nên có thể nói, Lục Hòa là Giới luật căn bản mà người xuất gia phải hành trì.

Về nguồn gốc đức Phật nói pháp Lục Hòa, chúng ta xem trong Kinh Trung Bộ I, bài kinh Kosambiya 48, trang 500 dạy rằng: Thuở đức Thế Tôn còn tại thế, khi Ngài đang sống trong tịnh xá Ghosita, tại thành phố Kosambi. Ở đây, những vị đệ tử của Ngài họ sống không hoà thuận với nhau, ngày nào họ cũng tranh cãi nhau, lời qua tiếng lại, họ đấu tranh nhau bằng vũ khí miệng lưỡi, ai cũng không chịu thua ai và cuối cùng đi đến sự đả thương, gây gổ lẫn nhau. Vì muốn có một cuộc sống tương thân tương ái trong cộng đồng Tăng, có một vài Tỷ kheo trình bày chuyện này lên đức Thế Tôn hầu mong đức Phật khuyên giải. Nhân đây, đức Phật nói pháp Lục Hòa để chư Tăng nương vào đó tu tập, giúp cho Tăng đoàn có một cuộc sống tương thân tương ái, tương kính hòa hợp với nhau.

III. HÀNH TƯỚNG VÀ Ý NGHĨA PHÁP LỤC HÒA

1. Thân hòa đồng trú

Thân Hòa Đồng Trú nghĩa là mọi người cùng ở chung một nơi, một trụ xứ, một đạo tràng, hay một tổ chức xã hội nào đó, thì phải hòa thuận, tôn trọng, lịch sự, tế nhị với nhau. Sẵn sàng chia sẽ khó khăn và giúp đỡ lẫn nhau. Không lánh nặng tìm nhẹ, không sống lập dị, kiểu cách, không được chia bè kết đảng, phe phái, giai cấp, chủng tộc, màu da, tôn giáo, không ỷ mạnh hiếp, ỷ khôn lấn dại mà chống đối, đánh đập nhau…Được vậy mới gọi là thân hòa cùng ở. Muốn thân hòa với tập thể thì đầu tiên mình phải biết hòa với chính mình trước, nghĩa là tự thân phải sống đạo đức, gương mẫu. Ta không thể “thân hòa” khi mà ta không biết làm chủ chính bản thân mình. Ví dụ thân ta cứ phạm vào sát sanh, trộm cướp, tà dâm, ăn nhậu ói mửa, say xỉn tối ngày, đi đứng loạng choạng…thì mọi người sẽ xa lánh ta, vì gần mình không được an toàn, không an lành…

Thực tế mà nói, khi sống chung trong một tập thể cũng khó tránh khỏi đụng chạm bất hòa. Nếu ở chung mà không hòa thuận nhau thì đau khổ lắm. Vợ chồng, anh em bất hòa thường xảy ra chiến tranh lạnh, có khi đánh đập thậm chí là phóng hỏa đốt nhà, giết người. Thôn xóm bất hòa thì họ chỉ biết sống trong ích kỷ, hại người, nhà ai cũng kín cổng cao tường, ai sống chết mặc ai, thậm chí họ còn tìm cách xây dựng trái phép, lấn chiếm đất của người ta, thì sẽ dẫn đến tình trạng đánh đập, kiện cáo lôi thôi, phiền phức…Công ty, xí nghiệp mà bất hòa dễ dẫn đến đập phá, biểu tình, đình công…Đất nước bất hòa thường xảy ra nạn bạo lực, khủng bố, phân chia phe đảng, thành lập các băng nhóm xã hội đen…Thế giới bất hòa sẽ sảy ra chiến tranh. Phật tử tu tập trong đạo tràng mà bất hòa thì sẽ chống đối nhau, chia rẽ, ỷ mình lớn tuổi, tới chùa lâu năm nên có những cử chỉ khiếm nhã với mọi người v.v…

            Phật dạy rằng để có được thân hòa khi sống với tập thể thì thân phải “hành động với tâm từ”. Nghĩa là mọi hành động đều phải xuất phát với tâm từ bi, mọi hành động không đem lại bực bội, đau khổ, sợ hãi, tổn hại người khác từ thể xác đến tinh thần. Theo ý nghĩa này, nếu nói rộng ra, khi con người sống chung trong một tập thể thì không nhất thiết là phải sống chung đụng hàng ngày hay phải quen biết nhau, mà đó còn là các mối liên hệ cộng sinh trong tất cả các lĩnh vực của con người, từ lĩnh vực giao thông, thương nghiệp, nông nghiệp, văn hóa… Ví dụ như khi ta tham gia giao thông, mặt dù ta không biết những người cùng tham gia giao thông với mình là ai, nhưng lúc đó ta đang hòa với một tập thể lớn đó. Nếu thân ta biết “hòa” thì mình sẽ chạy xe thật cẩn thận, đúng luật, còn nếu thân không “hòa” thì ta sẽ chạy lạng lách, phóng nhanh, vượt ẩu, gây tai nạn khiến người ta sợ hải, bực bội. Có nhiều người tuy không đánh đập người ta nhưng lại có thái độ, cử chỉ xem thường, khinh khỉnh, thậm chí mắt thì liếc, trừng, háy nguýt….Tuy nhiên, nếu ta có hiện tướng hung dữ, khó coi, nhưng mục đích là giúp cho người biết bỏ ác làm lành, bỏ tà theo chánh thì hành động đó vẫn được gọi là thân hòa, là hành động với tâm từ, giống như  ngài Tiêu Diện Đại Sĩ…., như cha mẹ đánh đòn dạy con…

 Nếu chúng ta biết “hành động với tâm từ” như thế thì đời sống tập thể, mọi thành viên sống rất tự giác, ý thức cao, biết quan tâm giúp đỡ, tương trợ nhau, tuân thủ quy định và làm tròn trách nhiệm, bổn phận đúng với cương vị của mình mà không có sự tranh giành, ẩu đả, xô xát, chống đối nhau. Từ đấy đưa đến sự hòa thuận, an lành hạnh phúc cho nhau. Cho nên tục Ngữ Việt Nam có câu rất hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” là vậy.

2. Khẩu hòa vô tranh

            Lời nói là công cụ giao tiếp gần gũi nhất của nhân loại. Lời nói sẽ thể hiện tư cách, tâm trạng, nguyện vọng của con người. Lời nói thiện sẽ dẫn đến an vui, hạnh phúc, hòa hợp và đưa đến giác ngộ, chánh kiến cho chúng ta. Lời nói ác sẽ đưa người đến mê lầm, chia lìa, oán hận, thậm chí dẫn đến bạo lực, chiến tranh.

Là đệ tử Phật, dù xuất gia hay tại gia, cần phải học theo gương sáng của đức Phật. Trong kinh Trung Bộ, bài kinh Xà Dụ, Thế Tôn dạy lời nói phải “an trú với khẩu nghiệp từ” được thể hiện qua năm phương diện: “Nói chân thật không nói giả dối, nịnh bợ. Nói lời hòa hợp không nói lời ly gián chia rẽ. Nói lời ái ngữ không nói lời cộc cằn, thô lỗ, thô tục. Nói hợp thời không nói phi thời. Nói thiện ngôn không nói ác ngôn”. Hãy thực hiện những điều trên để cảm hóa người và tạo nên sự hòa hợp. Bên cạnh đó, cũng có những lời nói tuy nghe không thuận tai, gọi là “trung ngôn nghịch nhĩ”, thậm chí là la rầy, lớn tiếng, nhưng xuất phát từ lòng từ bi để giúp ta giác ngộ thì lời nói đó cũng được gọi là khẩu hòa, giống như giáo thọ sư la rầy Tăng Ni sinh vì không làm bài, giảng sai giáo lý…

Trên thực tế, khẩu hòa không dễ thực hiện, sở dĩ có cãi nhau là do người khác làm trái ý mình, hoặc chê bai, nói lỗi mình, hoặc là bất đồng quan điểm… Tất cả cũng vì chấp ngã mà ra. Khi sống chung đụng với nhau, lời nói được sử dụng nhiều nhất, nên dễ sanh chuyện nhất. Cho nên người xưa có lời khuyên “trước khi nói phải uống lưỡi 7 lần” để tránh nói sai, nói lỗ mảng mà làm mất hòa khí nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống có rất nhiều người thích ăn thua, bắt bẻ nhau từng lời nói, tìm mọi cách để mĩa mai, đâm thọc, dèm pha, chê bai nhau để dẫn đến bất hòa: Từ bất hòa giữa bà con lối xóm, tới mẹ chồng nàng dâu, đến những cặp vợ chồng đưa nhau ra tòa ly dị, anh em xa lìa nhau, cha con không nhìn mặt nhau, bạn bè, thầy trò né tránh nhau, dường như trở thành xa lạ, có khi trở thành thù hận nhau. Thậm chí đi trên đường, sơ ý cọ quẹt nhẹ thì người ta đã chưởi mắng, cải cọ om sòm, chuyện bé xé cho to, thật là đáng buồn. Báo công an đăng tin, có 3 thanh niên vì lời nói khích của bạn mà đã hãm hiếp cô phó bí thư xã. Một thanh niên đã rút dao đâm chết bạn chỉ vì hai bên to tiếng qua lại. Người mẹ giận con la mắng con và nói “mầy đi chết đi”, không ngờ người con tức quá nên uống thuốc rầy và chết tại bịnh viện….

Sống trong tập thể nào cũng vậy, sự tôn trọng và gắn kết thường được thể hiện qua lời nói: Ví dụ trong gia đình, con cái phải biết đi thưa về trình với cha mẹ, vợ chồng phải xưng hô, nói năng cho tế nhị, chứ không phải đụng một chút chuyện là mầy tao mi tớ hay quát tháo nạt nộ. Vì thế mà ông cha ta có lời khuyên rất hay với con cháu mình:“chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa suốt đời không khê”. Còn Phật tử đến đạo tràng tu tập, gặp nhau thì mỉm cười, miệng niệm A Di Đà Phật, xưng hô với nhau bằng lời lẽ tế nhị, thì bạn đồng tu nghe rất ấm lòng. Còn nếu mình có lỗi thì phải chân thành xin lỗi để mọi chuyện được an ổn, chứ không nên tìm lỗi của người khác kể ra để khỏa lấp lỗi mình.

Muốn khẩu hòa vô tranh thì cần tập đức nhẫn nhục và học hạnh lắng nghe để hiểu biết, cảm thông và tha thứ. Thay vì nói thị phi thì hãy dành thời gian đó mà niệm Phật để tăng trưởng công đức. Hãy đem lời Phật dạy để khuyên mọi người cùng tu tập. Khi có vấn đề cần giải bày, đều nên dựa trên chánh kiến, trình bày phân tích trong ôn hòa hợp lý. Không dựa trên sự ngụy biện, xảo ngôn để tranh phần thắng mà trái với lẽ phải. 

3. Ý hòa đồng duyệt

Ý là phần vi tế, không hình tướng, là tư tưởng, là suy nghĩ của con người. Ý hòa nghĩa là tâm ý ta luôn suy nghĩ đến điều tốt đẹp, đem lại lợi ích, an vui, hòa hợp cho tập thể, cộng đồng. Có nhiều người thân, khẩu có thể hòa, nhưng ý lại bất hòa, mà ta thường nghe câu nói “bằng mặt nhưng không bằng lòng”. Một khi nhịn không nổi nữa, gọi là “tức nước vỡ bờ” thì nó sẽ bùng phát ra thân thì đánh đập, chém giết, miệng thì chưởi rủa v.v… Báo Pháp Luật đăng tin có 1 thanh niên đã đâm chết cha ruột của mình chỉ vì người cha ngày nào cũng ăn nhậu, say xỉn về nhà chưởi rủa, đánh đập tàn nhẫn mẹ và anh ta suốt 2 năm qua.

Như trên đã nói, sở dĩ thân có làm ác, miệng có nói ác chính là do ý không hòa, ý nghĩ ác mà ra. Thực tế cho thấy, ngoài xã hội, người có chức vụ, quyền hành mà tâm ý bất chánh sẽ dễ sản sinh những tệ nạn như: tham nhũng, quan liêu, vòi vĩnh, hách dịch, và tìm cách hạ bệ nhau. Người nào luôn để cho tham, sân, si chi phối, sai xử thì họ sẽ dễ tạo ra vô số những chuyện bất lương, tàn độc mà trên đã liệt kê sơ qua. Ngoài ra, nếu đồng một quan điểm lập trường giống nhau, thì tạo thành một phe nhóm, khác quan điểm lập trường thì tạo thành phe nhóm khác chống đối lại rồi gây đau khổ, thù hận nhau. Cho nên Phật dạy rằng ý làm chủ và sai sử cả thân và khẩu tạo nghiệp. Vì thế, sống trong một đoàn thể, muốn cho mọi việc đều được hòa thuận êm ấm, thì mỗi người cần phải giữ gìn ý tứ tâm địa của mình cho tốt. Chúng ta phải biết rằng mỗi người đều có những tư tưởng, tình cảm, quan điểm, sở thích không hoàn toàn giống nhau, nên mới có câu “chín người mười ý”, thì không nên áp đặt người khác phải theo ý mình nếu họ không hoan hỷ. Phải hết sức tế nhị trong sinh hoạt tập thể, ví dụ ta thích nghe cải lương thì mở thật nhỏ hoặc nghe tai phôn để không làm phiền người khác… Nếu người nào cũng khéo biết gìn giữ kiểm soát thật kỹ ở nơi tâm ý của mình, không cho nó tự do buông lung phóng dật, không cho tham sân si khởi lên, hoặc nếu có khởi lên ta phải có chánh niệm, tỉnh giác để thấy rõ tư tưởng xấu ác của mình mà ngăn chặn. Người không bị tâm vọng động chấp ngã, sân si làm chi phối là người có sức mạnh lớn, và được Thế Tôn tán thán:    

"Dầu tại bãi chiến trường,

Thắng hàng ngàn quân địch,

Không bằng tự thắng mình

Là chiến công oanh liệt.”

(Pháp Cú 103)

Chiến thắng chính mình là người biết làm chủ tâm ý mình, thì chắc chắn khi hành động hoặc nói năng, mỗi người sẽ giữ được hòa khí an vui.

Thế nên, Phật dạy người Phật tử mỗi người phải luôn giữ gìn cái tâm ý của mình, biết ý này là vô thường nên đừng chấp chặt và đừng luôn cho rằng ý mình là đúng, đừng để nó khởi nghĩ những điều bất thiện xấu ác mà gây ra cảnh bất hòa chia rẽ với nhau. Phải nỗ lực tu tập đức tính từ bi, hỷ xả, lấy ý tưởng giác ngộ, giải thoát làm mục đích cứu cánh và luôn tâm niệm rằng, tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật. Được như vậy thì bản thân, gia đình và xã hội mới có được một cuộc sống chung hòa hợp an vui và hạnh phúc.

4. Giới hòa đồng tu

Đây là nghệ thuật sống cao đẹp thứ tư dẫn đến sự hòa hợp. Khi con người văn minh tiến bộ tạo thành quốc gia riêng biệt thì có luật thành văn, gọi là pháp luật, mục đích là để duy trì trật tự, an ninh, văn minh, hạnh phúc cho xã hội loài người. Rồi các Tôn Giáo ra đời cũng có luật lệ riêng để bảo vệ tổ chức của mình. Riêng trong Phật Giáo thì có Giới luật để giúp cho Tăng, Ni, Phật tử có cuộc sống đạo đức, kỷ cương tốt đẹp, vững bước trên con đường tìm về bến giác. Tất cả đều tùy theo cấp bậc mà vui vẻ, tự nguyện giữ giới như nhau. Ví dụ đối với cư sĩ thì có năm giới, tám giới, hay Bồ Tát giới. Sa di có 10 giới, Tỳ kheo đồng giữ 250 giới, chư Ni đồng giữ 348 giới. Giới luật của Phật giáo chính là nền tảng luân lý, đạo đức; ngoài việc thánh thiện hoá cho cá nhân ra, còn được xem là những nguyên tắc thăng hoa cho cộng đồng xã hội

Giới còn được hiểu là những quy cũ, nội quy, kỷ luật. Ngay cả loài vật còn biết sống có trật tự, kỷ luật, đoàn kết. Đàn kiến bò có hàng lối. Chim bay có bầy, đàn. Bầy ong biết phân chia công việc, con nào bảo vệ, con nào kiếm mồi, con nào xây dựng tổ, nên chúng sống rất trật tự, nề nếp, hòa hợp…

Đối với con người thì phải hơn loài vật rất nhiều, vì chúng ta có lý trí và tình cảm. Đời sống cộng đồng ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình, mọi người phải tuân thủ nội quy của gia đình, có tôn ti trật tự rõ ràng. Trong công ty, công nhân vận hành máy phải đúng thao tác quy định để bảo đảm năng suất và an toàn lao động… Người tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm, đi về phần lề phải, không phóng nhanh vượt ẩu, gặp tín hiệu đèn đỏ phải dừng, đèn xanh được chạy… Người công dân sống phải giữ đúng pháp luật đã quy định. Đối với Phật tử tới chùa tu tập cần phải giữ gìn đúng theo nội quy của khóa tu. Ví dụ như cùng mặc đồng phục, cùng đeo bảng hiệu, không hút thuốc, không xả rác, không nói chuyện lớn tiếng, không mang giày dép lên chánh điện, trong giờ tu phải tắt điện thoại hay bật ở chế độ rung, không được chống trái nhau… thì mới có sự hòa hợp

Trong một tập thể, bao giờ cũng lấy nội quy, kỷ luật làm đầu. Công dân mà không giữ đúng pháp luật thì xã hội sẽ loạn, học sinh không giữ kỷ luật của trường, thì trường ấy ắt phải sập, gia đình Phật tử, đoàn sinh không tuân năm điều luật của gia đình PT, không làm theo huấn lệnh của Huynh trưởng, thì gia đình Phật tử ấy sẽ tan rã. Phật tử cùng sinh hoạt chung trong một môi trường tu học, nếu ai cũng làm theo ý thích riêng của mình thì đạo tràng đó sẽ lộn xộn và giải tán sớm

Vậy Phật tử, muốn hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người cần phải gìn giữ giới luật như nhau. Nhất là đệ tử Phật càng phải làm tấm gương sáng cho đời, phải giữ giới cho tinh nghiêm. Vì có giới luật mới có đức hạnh. Có đức hạnh thì sự tu tập mới đạt được chánh định để phát sanh trí tuệ. Có Trí tuệ mới chứng được quả vị và giải thoát.

Tăng già lấy Lục Hòa làm gốc

   Giải thoát lấy Giới Luật làm đầu”

5. Kiến hòa đồng giải

Kiến là sự thấy biết, là nhận thức của mình. Kiến hòa được biểu hiện qua nhiều phương diện: Kiến thức ở thế gian, kiến thức trong Phật Pháp, ý kiến của mọi người, v.v… Tất cả đều đem ra giải bày cho nhau cùng hiểu.

Kiến hòa đồng giải theo thế gian: Ví dụ học sinh khá, giỏi hãy tận tâm giúp những bạn học còn yếu kém hơn mình. Trong lĩnh vực phát minh, nếu tập thể trong nước và ngoài nước mà mọi người cùng hài hòa, sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm, nhận thức, những khám phá mới thì tập thể đó, xã hội đó mới mau phát triển, mau cường thịnh và đoàn kết. Thật tế cho thấy, có những người nông dân đã sáng chế thành công máy gặt lúa, máy cày ruộng, máy bơm nước. Các nhà bác học, kỹ sư phát minh ra bóng đèn, năng lượng mặt trời, máy bay, xe hơi, xe hon đa, máy quạt, ti vi, tàu thủy. v.v… đã phục vụ nâng cao đời sống cho con người. Còn trong cuộc họp, mọi thành viên đều có quyền đóng góp ý kiến, và những thành viên còn lại nên trân trọng đón nhận, lắng nghe hết ý kiến của người phát biểu, chứ không được gạt ngang, bác bỏ với thái độ xem nhẹ ý kiến của đối phương, càng không được dùng uy quyền, địa vị mà áp đặt ý kiến của mình bắt người khác nghe theo. Cho nên mới có việc trưng cầu ý dân trong các buổi họp tổ dân phố, phường, xã, hay thậm chí là ban hành luật hoặc sửa đổi hiến chương luật pháp cho đến việc bầu cử quốc hội đều phải thông qua ý kiến các đại biểu. Từ đó vị chủ tọa phải khéo léo dung hòa mọi ý kiến để lấy ý kiến chung nhất, hợp tình hợp lý nhất, được đa số người dân và đại biểu đồng ý, được vậy thì kiến hòa đồng giải sẽ được thiết lập. Thậm chí chúng ta có thể thiết lập kiến hòa đồng giải bằng cách viết thơ góp ý rồi bỏ vào các hòm thư góp ý mà không nhất thiết phải có mặt ai cả…

Ngày nay trên thế giới luôn có sự xung đột, tranh chấp về tài nguyên, lãnh thổ, chính trị, kinh tế… Tất cả đều do không có kiến hòa. Khi thương lượng không thành thì đôi bên nhất định xảy ra bất hòa, tổn hại nhau.

Trong tu tập, có hai loại tri kiến: Tà kiến và chánh kiến. Tà kiến là các pháp hữu vi là vô thường mà cho là thường, là khổ mà cho là vui, là bất bịnh mà cho là tịnh, là vô ngã mà cho là hữu ngã. Đây là loại tri kiến điên đảo, nhất định sẽ dẫn đến bất hòa, tranh luận, đi sai đường, dẫn đến đau khổ, đọa lạc. Nếu mọi người đều học, hiểu và hành trì theo chánh kiến của Phật dạy, nghĩa là biết rõ các pháp hữu vi là vô thường, vô ngã, bất tịnh, là khổ thì sẽ không còn bất đồng về kiến giải nữa. Bên cạnh đó, Phật tử cần nên chia sẻ với nhau về những hiểu biết, những kinh nghiệm tu học của tự thân, hay nêu ra những nghi vấn, những thắc mắc của mình để được những bậc tôn túc, đức hạnh giải thích, chỉ dạy. Những điều này vô cùng quan trọng. Vì Phật pháp sâu rộng, mênh mông, mà bản thân kiến giải riêng mình có giới hạn, có khi ta hiểu sai mà không biết. Nếu chấp chặt kiến giải của mình là đúng (dù điều đó là sai), rồi nói người khác là sai thì tập thể đó nhất định sẽ có sự bất hòa. Ví dụ người tu Thiền nói là người tu Tịnh Độ là yếu đuối, dựa dẫm. Còn người tu Tịnh Độ nói tu Thiền dễ bị điên. Như có cô Phật tử tu bên Nam Tông nói với một anh Phật tử tu bên Bắc Tông là “anh thờ Tây Phương Tam Thánh là mê tín dị đoan”, nghe xong anh này giận và tranh cãi kịch liệt với cô Phật tử đó và anh này thề là sẽ không bao giờ tới chùa đó nữa.

Tóm lại, bất kỳ tập thể nào, nếu ai muốn đóng góp ý kiến gì đều xây dựng trên tinh thần từ bi, hòa hợp, chánh kiến. Ta góp ý, chia sẽ bằng tấm chân tình của người con Phật. Nếu sự chia sẻ của mình không được tập thể chấp nhận thì ta cũng hoan hỷ, không vì vậy mà sanh lòng bực tức, khó chịu. Theo pháp Yết Ma của Phật, nếu còn một người chưa hòa hợp, hay chưa chấp nhận, thì việc cũng không thành.

            6. Lợi hòa đồng quân

            Ở trong chùa hay Tinh xá, nếu có ai cúng dường về tài lợi, vật thực, đồ dùng thì Tăng, Ni cùng chia đồng đều nhau, hay cùng nhau thọ dụng, nhất là ưu tiên cho những ai già yếu bệnh hoạn. Nhưng chia đều không có nghĩa là ai cũng giống như nhau, mà chia đều theo giới phẩm, phước đức. Thế gian còn có câu “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Ví dụ cúng dường trai Tăng thì người có trách nhiệm hướng dẫn phải biết phân chia. Chư tôn Hòa Thượng phải được cúng dường nhiều hơn chư đại đức.. Bởi vì phước đức của vị Đại đức không bằng phước đức của vị Thượng Tọa hay của chư tôn Hòa Thượng. Phước đức không bằng thì thọ hưởng cũng không bằng. Cho nên Phật tử nên hiểu rõ để khi cúng dường thể hiện được tâm tôn kính các bậc tôn đức trưởng bối, thì phước báu của ta mới được viên mãn

Khi nói đến vấn đề thọ nhận tài vật, Đức Phật có dạy: “Hãy thừa tự chánh pháp hơn là thừa tự tài vật”. Vì thế, đối với người con Phật, nên xem quyền lợi tài vật như là phương tiện cho cuộc sống. Nếu ta không ý thức, cảnh giác, thì phương tiện này thường đưa đến sự tranh chấp, làm mất an vui.

            Khi quyền lợi được phân chia thỏa đáng thì tình thân được phát triển dễ dàng.  Nhưng với người thế gian, vì lòng tham và ích kỷ nên khó mà có được lợi hòa này. Trong xã hội, sở dĩ có sự xung đột dữ dội, phân chia giai cấp, cũng do vì thiếu sự "Lợi hòa đồng quân" cả. Người giàu thì giàu quá, kẻ nghèo thì nghèo xơ, Do đó, không thể có hòa bình được, từ đó mới xảy ra trộm cướp, lường gạt, giết hại nhau, chiến tranh… Thậm chí có nhiều trường hợp lại cướp của người giàu đem cho người nghèo, điều này hoàn toàn sai. Phải biết rằng trong nhân quả nhà Phật thì người giàu sang là do đời trước biết bố thí, cúng dường, chúng ta chỉ nên tận lực khuyến hóa họ phát tâm giúp đỡ người nghèo khổ mà thôi. Trong công ty, xí nghiệp dù của tư nhân hay nhà nước, thì không được bóc lột, lợi dụng sức lao động của người lao động, mà phải quan tâm và trả lương, thưởng xứng đáng với công sức của người làm công, khi có huê lợi nên chia đều cho công nhân. Các nhà kinh doanh nên chân thành hợp tác làm ăn và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau để phát triển và vượt qua những khó khăn. Không nên có tâm xấu xa, ích kỷ, độc ác khi thấy công ty bạn kinh doanh phát triển, ăn nên làm ra thì mình tìm cách hạ bệ họ, khiến công ty bạn phải phá sản. Trong gia đình, cha mẹ chia tài sản cho con cũng nên chia cho thật khéo. Người giàu nên chia sẻ, giúp đỡ người nghèo. Những ai hùn vốn làm ăn tùy theo % vốn mà chia lợi nhuận thích hợp. Ví dụ: đội xe ôm nên nhường khách nhau mà chạy… thì xã hội này sẽ vô cùng tốt đẹp, bình an.

            Phật tử đến chùa tu tập, nếu có thí chủ cúng dường cho khóa tu như: thức ăn, nước uống hay là kinh sách, đĩa giảng v.v… thì tất cả Phật tử đều được chia đều, ai cũng có phần. Khi ngồi ăn chung, mỗi người phải hết sức tế nhị, không nên thấy món ăn đó ngon quá mà gắp cho nhiều để rồi người khác không có. Ví dụ bàn ăn có 10 người, trên bàn có 10 miếng đậu hủ, thì mỗi người chỉ dùng 1 miếng đậu mà thôi…

            Nói rộng ra, trong cuộc sống, chúng ta phải hết sức tiết kiệm, không tiêu sài phung phí từ điện, nước, thức ăn, đồ dùng…để còn chia sẽ, giúp đỡ những người khổ nạn khác, nhất là trong thời điểm này, khi lũ lụt miền trung đang tàn phá, hoành hành thì rất cần những tấm lòng biết nhường cơm xẻ áo.

IV. ỨNG DỤNG VÀ LỢI ÍCH CỦA PHÁP LỤC HÒA

Lục hòa là sáu phương pháp sống hòa hợp, có năng lực ngăn ngừa sự xung đột, đấu tranh, xảy ra trong một cộng đồng Tăng sĩ. Đó là ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp, thể hiện sự công bằng hòa ái, tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ những khó khăn và những thuận lợi.

Lục Hòa mặc dù là nếp sống Tăng đoàn nhưng nếu được vận dụng trong đời sống thế tục sẽ đem lại sự hòa hợp, an vui trong mỗi gia đình, làng xóm, khu phố, trường học, công ty, tổ chức đoàn thể, quốc gia và toàn cộng đồng xã hội loài người.

- Để thực hiện được tinh thần thân hòa đồng trụ, chúng ta phải có đức tánh hy sinh, biết mình biết ta, đặt mình vào ví người khác, thông cảm chia sẻ cho nhau, đồng thời, không nên làm các điều ác và thường làm các điều thiện, vì không có ai thích thân cận và hòa đồng với những người xấu. Mọi người luôn chung sức bảo vệ, xây dựng, phát triển gia đình, tổ chức…hành tinh mình đang sống. Vì sự bình an của tập thể cũng chính là vì hạnh phúc của mỗi ca nhân chúng ta vậy.

- Để thực hiện được khẩu hòa vô tranh, chúng ta cần phải trao dồi hạnh nhẫn nhục, nói lời hay ý đẹp, để đảm bảo sự thanh tịnh đoàn kết, bởi vì lời nói thể hiện tư cách đạo đức của mình trong mối quan hệ với nhau. Thận trọng và khéo léo trong lời nói, hạn chế mọi sự tranh cãi và luôn tôn trọng, lắng nghe người khác. Lời nói hòa hợp không chỉ cần thiết cho một gia đình hạnh phúc, mà cũng là nhân tố thiết yếu cho bất cứ tập thể hòa hợp nào.

- Muốn thực hiện ý hòa đồng duyệt, chúng ta phải tập buông xả mọi vọng tưởng, cố chấp, phân biệt thương ghét, tốt xấu, phải trái hơn thua, thường niệm Phật và nghĩ nhớ điều thiện, được như vậy là ta đã trang bị cho mình tấm lòng bao dung, độ lượng tha thứ, vui vẻ, để cùng hòa hợp với mọi người. Quan tâm giúp đỡ và phục vụ lẫn nhau trong công việc, tạo ra được sự đồng lòng nhất trí trong mọi công việc chung của gia đình hoặc tập thể. Mỗi người đều biết nhận lấy phần trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho nhau nên sẽ không bao giờ có sự trách móc lẫn nhau, tạo ra được sự hòa hợp và đoàn kết.

- Để thực hiện được giới hòa đồng tu, tức là đệ tử tại gia hay xuất gia, phải giữ đúng giới mình lãnh thọ, không để nhiểm ô hay sức mẻ, giữ gìn phạm hạnh cho nhau, tạo thành một tập thể thanh tịnh hòa hợp, đúng với vai trò của mình, kính trên nhường dưới, vai vế rõ ràng. Nếu mọi người trong gia đình hay một tập thể đều nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng những khuôn thước, nề nếp hay chuẩn mực chung và cùng khuyến khích nhau sửa chữa mọi sai lầm, khuyết điểm, thì gia đình hay tập thể đó chắc chắn sẽ sớm trở thành một môi trường hòa hợp, gắn bó mọi người với nhau để cùng tiến bộ.

- Để thực hiện được kiến hòa đồng giải, chúng ta mở rộng tấm lòng, không nên ích kỷ, hãy chia sẻ những kiến thức ta có được cho mọi người cùng nhau hiểu biết, cùng nhau hài hòa, sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm, những nhận thức, những khám phá mới thì xã hội mới mau phát triển, mau cường thịnh.

- Để thực hiện được lợi hòa đồng quân, là chúng ta cần phải biết mở rộng lòng từ bố thí, chia sẻ với những người khó khăn. Nhưng không ai có thể giúp cho mình hoài được, vì vậy người nghèo phải biết vươn lên để khắc phục khó khăn, đồng thời cũng làm cho xã hội được phát triển về kinh tế cũng như đạo đức vậy. Đứng về mặt khác, tức là phải phân chia quyền lợi cho đồng đều. Nếu trong một gia đình hay tập thể mà quyền lợi không đồng, dễ sinh ra loạn động bất hòa. Quyền lợi được phân chia hòa hợp thì tình thân được phát triển dễ dàng. Tuy đây là yếu tố tuy không đứng hàng đầu, nhưng đối với người thế gian thì thật là quan trọng.

Sáu nguyên tắc này là phương châm, nghệ thuật sống đi vào đời, tạo cho thế giới tình thương, tình nhân ái, công bằng dân chủ, kiến tạo một gia đình văn hóa, một tập thể an vui, một tổ chức nhất trí đồng lòng, một Tăng già thanh tịnh hòa hợp, một mô hình kiểu mẫu, đúng như lời tuyên bố: “đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công”

Đối với người xuất gia: Lục hòa là một bộ luật đầu tiên áp dụng cho Tăng đoàn thời Đức Phật. Bởi trong 12 năm đầu, Đức Phật chưa chế Giới luật thì Lục hòa là khuôn phép, là chuẩn mực, áp dụng trong Tăng đoàn để có cuộc sống hòa hợp thanh tịnh. Nhân cách đạo đức của nếp sống Tăng đoàn bắt nguồn từ sáu pháp hòa kính, đây cũng là phương pháp tu tập đầu tiên và căn bản để thành tựu đạo vị.

Đoàn thể Tăng già nhờ hòa hợp thanh tịnh mà có thể hóa giải tất cả mọi dị biệt, tranh chấp, mâu thuẫn mà không một tập thể thế tục nào có thể làm được. Nhờ sống theo tinh thần Lục Hòa nên mỗi người tự trang nghiêm pháp thân cho mình, oai nghi cử chỉ đúng theo một bậc mô phạm trong hàng Chúng Trung Tôn, tức người đó đã thành tựu giới đức, tâm đức và hạnh đức. Nên nói, có lục hòa là có giải thoát Niết bàn vì không còn bóng dáng của phiền não đấu tranh.

Đối với người tại gia: Chúng ta biết rằng khi đã cùng chung sống trong một mái ấm gia đình thì không thể có hạnh phúc nếu mọi người không cùng nhau sống hòa hợp, gắn bó và trách nhiệm. Cho nên, mọi người cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm hòa kính với nhau, có như vậy mới hoàn thiện nhân cách đạo đức của mình. Nếu mọi thành viên trong gia đình đều thực hành pháp này sẽ tạo ra được sự đồng lòng nhất trí trong mọi công việc chung của gia đình, chắc chắn rằng gia đình sẽ an vui hạnh phúc.

Riêng giới Phật tử, nếu áp dụng đúng đắn pháp Lục Hòa thì sự tu học của chúng ta mau được tiến bộ. Người luôn sống đúng theo tinh thần Lục Hòa là người có tinh thần từ bi, vô ngã vị tha, không có tham lam, sân hận và si mê thì tam nghiệp thân khẩu ý luôn thanh tịnh. Đạt được như vậy thì con đường giải thoát rộng mở, và cảnh giới Cực Lạc không phải chỉ là một ước vọng.

Đối với quốc gia xã hội: Tất cả mọi người trong xã hội biết áp dụng Lục hòa, cùng nhau học hỏi mở rộng kiến thức, biết giúp đỡ nhau, thì lo gì dân chúng không an vui hạnh phúc, quốc gia không thịnh vượng? Điều này đã minh chứng rõ ràng trong lịch sử Việt Nam thời Lý, Trần; từ vua, quan cho đến toàn dân cùng đồng lòng, hòa hợp, biết hy sinh cá nhân, đoàn kết mới tạo thành sức mạnh để chiến thắng ngoại xâm, tạo thành trang sử oai hùng của dân tộc Việt. Cho nên, nếu cả xã hội đoàn kết hòa hợp một lòng thì chắc chắn xây dựng được một xã hội an vu hạnh phúc, dân giàu nước mạnh.

C. KẾT LUẬN

Thế Tôn là hiện thân của Lục Hòa cao đẹp nhất. Ngay từ khi còn nhỏ và đến khi xuất gia tìm đạo, và suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh cho đến khi nhập Niết Bàn, Ngài đã hòa với thiên nhiên vạn vật và chúng sanh một cách trọn vẹn. Chính vì vậy mà Đức Phật đã xóa bỏ đi mọi sự kỳ thị, phân biệt về giai cấp, địa vị, chủng tộc, màu da. Ngài nhận đệ tử với đủ mọi thành phần và mọi giai cấp trong xã hội. Ngài tuyên bố “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong giọt nước mắt cùng mặn, mọi loài đều bình đẳng nhau trong Phật tánh”. Ngài nói thế nào thì Ngài như thế đó.

Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh, tùy theo căn tánh mỗi người mà Ngài đã tận tâm giáo hóa mọi người mà không dấu diếm điều gì. Nhờ tinh thần này mà bước chân Đức Phật đi đến đâu thì nơi đó được an hòa, được hàn gắng, đoàn kết, tình thương được thiết lập, mọi bạo lực, hiềm khích, chống báng, hãm hại, chia rẽ và vô minh hắc ám bị tiêu tan như làn sương mỏng trước ánh sáng mặt trời. Chúng ta là Phật tử, phải nhìn vào gương sáng của đức Phật, nỗ lực thật hành theo để không cô phụ ân đức của đấng cha lành.

            Tất cả giáo lý của Phật thuyết giảng đều đem lại cho nhân loại một cuộc sống an vui, hạnh phúc, nhưng trong đó pháp Lục Hòa là một trong những phương pháp gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hành nhất, chỉ cần chúng ta có ý thức, đặc mình vào vị trí của người khác, trải lòng từ bi, lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng người khác là chúng ta có thể làm được.

Pháp Lục Hòa của Phật Giáo là sáu yếu tố đem lại an vui cho người tu, đem lại hạnh phúc cho mọi gia đình, đem lại hòa bình cho thế giới. Thực hành sáu pháp Hòa Kính là ta đang tu tập Giới, Định, Huệ để diệt trừ tham sân si, diệt trừ ngã chấp. Khi ta thực hành thân hòa, khẩu hòa và ý hòa là ba nghiệp của tự thân được thanh tịnh, từ đó ta sống với tha nhân bằng tâm từ bi hỷ xả, làm đẹp cho đời.

Qua pháp Lục Hòa của Đức Phật, chúng ta nhận thấy đó là chất keo tốt nhất gắn bó sự đoàn kết hòa hợp, an vui của Tăng đoàn. Ngoài ra, đó còn là mô hình kiểu mẫu cho bất cứ đoàn thể, tổ chức nào ngày nay muốn tồn tại, phát triển trong mọi sinh hoạt. Sống theo tinh thần Lục Hòa chẳng những chúng ta xương minh đạo pháp, mà còn góp phần tô điểm cho đất nước, dân tộc ngày thêm phồn vinh, hạnh phúc.

 

 


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 278
Tổng truy cập: 724.209
Số người đang online: 15