Top

tin tuc ngay nay

Ngũ đình tâm quán

Thứ 2 | 01/03/2021
Thực hành Ngũ Đình Tâm Quán là mang lại lợi ích cho cá nhân và toàn nhân loại, kiến tạo cõi Tịnh Độ tại nhân gian này.

BÀI 1

A. DẪN NHẬP

Chúng sanh có vô số căn bệnh nên giáo pháp của Phật cũng có vô lượng pháp môn để đối trị những căn bệnh của chúng sanh đó. Trong suốt hành trình 49 năm hoằng hóa độ sanh của Phật, Ngài đã để lại một kho tàng giáo lý, đó là những phương thuốc hữu hiệu để đối trị những căn bệnh của chúng sanh từ vô thỉ kiếp. Tùy theo căn cơ, trình độ của mỗi người để đón nhận cho mình một thứ thuốc thích hợp để điều trị tâm bệnh, hầu giúp cho chúng ta có một tinh thần luôn an lạc giải thoát trong kiếp nhân sinh. Bởi chân lý về Niết Bàn của đức Phật dạy không phải ở một thế giới xa xôi nào mà chính ngay trong tự thân của mỗi người. Đó chính là một con người sống lành mạnh, có một tâm hồn an lạc, vị tha, nhân ái.

 Để có được một tâm hồn an lạc, thanh thoát thì việc tu tập các phương pháp quán tưởng là một điều không thể thiếu đối với những hành giả đi trên lộ trình tu tập giải thoát. Trong đó Ngũ Đình Tâm Quán là một phương pháp hữu hiệu để giúp hành giả ngăn chặn và đối trị những phiền não, dứt trừ tham, sân, si của chính mình. Khi những phiền não đã được dứt trừ thì tâm an lạc hiện hữu, trí huệ cũng từ đây mà phát sanh. Cho nên đức Phật đã dạy:“Tâm có định mới phát sanh trí tuệ, có trí tuệ mới phá trừ được vô minh để thành tựu được thánh đạo.” Vậy tác dụng và công năng của Ngũ Đình Tâm Quán như thế nào chúng ta cần tìm hiểu qua phần nội dung sau.

B. NỘI DUNG

I. ĐỊNH NGHĨA

Ngũ là năm. Đình là dừng lại, ngưng lại. Tâm có nhiều loại, nhưng quy nạp lại thành hai loại: chân tâm và vọng tâm. Chơn tâm là tâm thanh tịnh, sáng suốt hoàn toàn, thấy biết rõ ràng mà không phân biệt, không dính mắc, không chấp thủ...Vọng tâm là tâm phân biệt, dính mắc, chấp thủ… Nhưng tâm muốn nói ở đây tức là Tâm Ý Thức, tức là vọng tâm. Quán là tập trung tư tưởng để tư duy, soi rọi và phân tích tường tận đối tượng, để thấu triệt được bản chất thật của đối tượng đó.

Vậy Ngũ Đình Tâm Quán là năm phương thuốc trị tâm bệnh, hay năm phương pháp quán sát tường tận thấu đáo rõ biết các pháp, để điều chế tự thân, dừng vọng tâm phân biệt, chấp trước của mình. Gồm có:

1. Quán Sổ tức: để đối trị bệnh tán loạn của tâm trí

2. Quán bất tịnh: để đối trị lòng tham sắc dục.

3. Quán Từ bi: để đối trị lòng sân hận.

4. Quán Nhân duyên: để đối trị lòng si mê.

5. Quán Giới phân biệt: để đối trị chấp ngã, chấp pháp

       II. THÀNH PHẦN CỦA NGŨ ĐÌNH TÂM QUÁN

1. QUÁN SỔ TỨC

1.1. Định Nghĩa:

Sổ tức: sổ là đếm; tức là hơi thở. Quán Sổ tức là tập trung tâm trí để đếm hơi thở vào, ra của mình, mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn.

Bất luận trong công việc gì, sự định tĩnh tâm trí là một yếu tố quan trọng. Người tu tập mà tâm trí luôn luôn tán loạn, tư tưởng thiếu tập trung, thìviệc tu tập khó được kết quả viên mãn. Cho nên muốn tâm hết tán loạn, được yên định, thì việc tu phép quán Sổ tức là điều rất cần thiết. Đây là một phép quán rất dễ thật hành, ai cũng có thể làm được. Bởi hơi thở là đóng vai trò rất quan trọng, nó là chất liệu của sự sống. Nếu không duy trì hơi thở hoặc hơi thở không ổn định thì sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, mạng sống của chúng ta cũng khó duy trì. Đếm hơi thở tức là theo dõi hơi thở, làm chủ hơi thở của mình. Làm chủ hơi thở tức là làm chủ mạng sống của mình. Từ trước đến nay chúng ta ít khi để ý đến hơi thở của mình mặc dù nó rất quan trọng. Cho nên khi học quán sổ tức, tức là nhắc nhở chúng ta quan tâm, để ý đến hơi thở, phải điều hòa chúng, không cho quá nhanh hoặc quá chậm, bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự định tâm của chúng ta.

Đối với việc tu hành thì sự định tâm lại cần thiết hơn. Nên trong kinh có dạy: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện". Nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu.

          1. Phương pháp quán Sổ tức:

Phương pháp quán này chúng ta có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi, dù khi đi hay đứng, nằm, ngồi.... cũng đều có thể tập trung tư tưởng để đếm hơi thở.

Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều hòa và những trược khí, uất khí nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào đó bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên.

Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền não: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không còn một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào bủa khắp thân tâm".

Gồm có những cách đếm như sau:

1. Ðếm hơi lẻ: Nghiã là thở ra đếm một, thở vô đếm hai, đếm cho đến mười, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại.

2. Ðếm hơi chẵn: Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười.

3. Ðếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, nhưng tuần tự từ một đến mười.

4. Ðếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.

Bốn phương pháp này, tùy ý hành giả muốn dùng phương pháp nào cũng được, miễn sao thuận tiện cho việc tu tập của mình để đối trị được tâm tán loạn. Khi tâm được an tịnh rồi thì hành giả tùy theo tâm nguyện của mình để tu tập các pháp môn khác như niệm Phật, tham thiền…

1.3. Lợi ích của pháp quán Sổ Tức

Chú tâm đếm hơi thở như thế sẽ giúp tâm hành giả được định tĩnh, không còn tán loạn. Tâm không tán loạn thì tâm được sáng suốt, giúp ta có được chánh niệm, tĩnh giác. Bên cạnh đó thì hơi thở được điều hòa, nhẹ nhàng, thân thể mạnh khỏe, an ổn… thì làm việc gì cũng dễ thành công, chính xác.

Nói một cách thiết thực hơn nữa, nếu muốn tu các pháp quán trong "Ngũ Đình Tâm Quán ", thì trước tiên phải tập quán cho thuần thục phép Sổ Tức này. Nếu quán pháp này chưa thành công, mà vội tu tập các pháp quán khác, như "Bất tịnh quán , Từ bi quán" v.v...thì khó thành tựu viên mãn. Cho nên việc tu tập phương pháp quán sổ tức đóng vai trò rất quan trọng đối với những hành giả đang đi trên con đường tu tập giải thoát.

2. QUÁN BẤT TỊNH

Trong thế gian này, không có ai là không tham sống. Vì tham sống nên con người tìm hết mọi cách để được sống, để trau dồi thân mạng, và để di truyền sự sống. Không chỉ tham đắm sắc thân của mình mà còn tham đắm sắc thân của người khác. Nào hình tướng diễm kiều, thướt tha hay phong độ đẹp trai…rồi sanh tâm đắm mến. Nếu không đạt được ước muốn của mình thì sanh ra buồn giận, đau khổ. Ðể xét đoán đúng đắn giá trị của thân mạng, đức Phật dạy chúng ta thực hành một pháp quán đó là "Quán Bất Tịnh". Để chúng ta nhìn nhận đúng bản chất thật về thân thể tứ đại này, để không còn quá tham đắm vào nó nữa mà phải chịu đau khổ.

2.1. Định nghĩa:

"Bất tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, không trong lành. Quán Bất tịnh tức là quán sát một cách tỷ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch như hầu hết người đời đều lầm tưởng. Quán bất tịnh nhằm xả ly tham dục, ái nhiễm và đắm trước. Bởi vì chính thân này mà đôi khi chúng ta dám làm những điều tội lỗi để cho nó được sung sướng, mà chưa khi nào ta thử nhìn đúng về sự bất tịnh của thân mình. Cũng bởi vì vô minh nên chúng ta làm nô lệ cho thân xác này, và từ đó gây ra nghiệp báo để phải chịu trầm luân trong sanh tử luân hồi. Do đó, chúng ta cần phải sáng suốt để nhận chân được bản chất thật của nó. Để thấy rõ được vấn đề đó, Đức Phật dạy chúng ta cần phải Quán Bất Tịnh.

2.2. Phương pháp quán

Sắc thân con người do tứ đại hợp thành, từ khi bắt đầu hình thành cho đến khi bị tiêu hủy đều đầy ắp bất tịnh. Để quán triệt được rốt ráo thân mạng này chúng ta cần quán sát qua năm giai đoạn sau:

1. Quán chủng tử bất tịnh

2. Quán trụ xứ bất tịnh

3. Quán tự tướng bất tịnh

4. Quán tự thể bất tịnh

5. Quán chung cánh bất tịnh

1. Quán chủng tử bất tịnh: Chủng tử của thân mạng gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất. Phần tinh thần này cũng gọi là phần thức. Thức này là nơi dung chứa tất cả nghiệp nhân lành, dữ của thân, khẩu, ý trong quá khứ; vì thế nên cũng gọi là tàng thức, nghĩa là nơi chứa nhóm. Tạng thức thì không trong sạch vì nó là nơi kết tinh của những nghiệp nhân phiền não: tham, sân, si. Trong Quy Sơn cảnh sách có dạy: “Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành”. Khi con người chết cái tạng thức ấy vẫn còn, và theo nghiệp lực thiện, ác của nó mà dẫn sanh ở các loài, hoặc trầm luân, hoặc giải thoát.

Khi tàng thức đã Bất tịnh thì tất phải tìm bạn Bất tịnh mà kết giao. Thần thức nầy để thể hiện một đời sống khác, đã gá mình vào một chất Bất tịnh khác, đó là sự hòa hiệp của tinh cha, huyết mẹ. Nói cách rõ ràng hơn, tức là cái thai mới kết tụ vậy. Từ tinh thần cho đến vật chất, đều là nhiễm ô Bất tịnh, không có gì đáng để tự hào và quí chuộng.

2. Quán trụ xứ bất tịnh: Trụ xứ là chỗ ở. Nếu chủng tử hay cái thai là một khối hôi tanh, thì nơi ở của nó cũng không sạch. Nghĩa là chỗ ở của cái thai là một cái bọc chứa đầy máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn.

3. Quán tự tướng bất tịnh: Sau khi đã thoát bào thai chào đời bằng những tiếng khóc, đứa bé bắt đầu sống một đời sống riêng biệt, có đầy đủ giác quan để tiếp xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ phận cần thiết để điều hòa cuộc sống thể xác của mình. Nhưng cơ thể ấy vẫn thường bài tiết những chất dơ bẩn, hôi hám. Do đó, ta biết rằng cái thân này không trong sạch. Trong cơ thể của mỗi người hằng ngày thường bài tiết ra chín lỗ, là những chất nhơ nhớp, hôi hám.

4. Quán tự thể bất tịnh. Như chúng ta đã thấy chín lỗ trong người, mỗi ngày bài tiết không biết bao là thứ nhơ nhớp. Vậy chắc chắn bên trong thân xác, những chất liệu cấu kết nên thể xác chúng ta cũng không trong sạch được.

5. Quán chung cánh bất tịnh. Chung cánh ở đây là muốn nói cái giai đoạn hư hoại của thân người sau khi trút hơi thở cuối cùng. Vậy quán chung cánh bất tịnh nghĩa là quán giai đoạn hư hoại, bất tịnh của thân người sau khi chết, thân thể tan rã, hôi hám thật là ghê tởm.

Mục đích của quán thân bất tịnh là nhằm đưa con người vượt khỏi những vướng mắc, bi lụy, đau khổ, chấp trước vào thân này. Giúp chúng ta thấu triệt thân này chỉ là một tiến trình luôn biến chuyển, không thật thể. Nó chỉ là do năm uẩn hợp thành, là khối uế trược do thất đại duyên nhau mà có.

Trong kinh đức Phật đã dạy là thân người do tứ đại giả hiệp mà thành, sau khi chết, xác con người phải trả về cho tứ đại. Hơi thở trả về với phong đại, hơi ấm trở về với hỏa đại, chất lỏng trong người trở về với thủy đại, và cuối cùng chất cứng và sệt như thịt xương...hóa dẫn theo địa đại.

Tóm lại, qua năm giai đoạn quán bất tịnh này: chủng tử, trụ xứ, tự tướng, tự thể và chung cánh, chúng ta đã có một quan niệm rõ ràng, chân xác về cái bất tịnh của thân người. Cả thời gian dài của một kiếp sống con người, từ lúc đầu thai đến khi bị vùi xuống đất, quả thật thân người không tìm thấy một tí gì thơm sạch.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhờ cái thân bất tịnh này, nương vào nó để làm phương tiện tu tập, để tìm về với sự thanh tịnh giải thoát. Như muốn qua sông thì phải nương nhờ vào chiếc thuyền vậy. Nếu không có thuyền thì không thể qua sông được. Chớ nên tưởng rằng trong thân bất tịnh này không có Phật tánh. Bởi Phật tánh "bất sinh bất diệt" nằm ngay trong cái sinh diệt.

 

2.3. Lợi ích của pháp quán Bất Tịnh

Mục đích của pháp quán bất tịnh để chúng ta tu hạnh ly tham, để đối trị lòng tham sắc dục, chứ không phải để chán đời, tự hủy diệt mình. Biết lợi dụng cái thân bất tịnh, vô thường này, mà tìm ra cái "tịnh" cái "thường", ấy chính là bổn ý của đức Phật khi dạy pháp quán tưởng này. Bởi “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, Nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục”.

Ngoài ra, Phật còn dạy chúng ta phải quán tất cả đàn ông là cha ta, tất cả đàn bà là mẹ ta, từ đó lìa được tham ái.

3. QUÁN TỪ BI

Trong các nguyên nhân gây ra đau khổ cho mình và người thì tánh nóng giận là một nguyên nhân lớn, chẳng kém gì lòng tham lam và tánh si mê. Có những sự nóng giận nho nhỏ trong nhà giữa vợ chồng làm đổ vỡ chén bát; có những sự nóng giận giữa anh em làm u đầu sưng trán; có những sự nóng giận giữa bạn bè làm đoạn tuyệt đường đi lối về; có những sự nóng giận giữa tình địch, hay đồng nghiệp kinh doanh cần phải thanh toán bằng lưỡi dao, mũi súng ...

Tâm chúng ta lúc nào cũng tiềm ẩn sự sân giận, nó sẽ bộc phát bất cứ lúc nào. Nếu người không có tâm định tĩnh để tự chế ngự mình thì sự nóng giận sẽ dẫn mọi việc đến chỗ rất tai hại vô cùng. Nguyên nhân phát khởi sự nóng giận là do sự bảo vệ bản ngã của chính mình. Chỉ cần một sự không vừa ý, trái lòng thì tánh nóng giận liền bộc phát. Bởi chúng ta nói, mọi người không nghe theo, không làm theo ý của mình. Con người lúc nào cũng muốn mình là số một của vũ trụ. Cho nên mình nói gì, mình làm gì mọi người đều phải nghe theo. Nếu mọi người không nghe theo ý của ta, thì sự sân giận nổi lên. Cho nên, đức Phật dạy phải Quán Từ Bi để diệt trừ sự sân giận. Đồng thời, khi phát khởi tâm từ bi tức là chúng ta luôn nghĩ đến người khác, luôn sống vì người khác, và tìm mọi cách để đem đến niềm an vui, hạnh phúc cho mọi người. Bởi khi tâm chúng ta phát khởi lòng từ bi tức là ta đã có lòng vị tha, thương người. Khi đem niềm vui đến cho người thì cũng đồng nghĩa là chúng ta cũng được an vui.

3.1. Định nghĩa:

Từ bi theo Ðạo Phật được hiểu: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ". Nghĩa là Từ cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài. Diệt khổ và cho vui đó là tất cả nguyện vọng và hành động lợi tha, cứu đời của người có lòng từ bi.

 

3.2. Phương Pháp Quán

Quán Từ bi có ba từng bậc thấp cao, tùy theo căn cơ của ba hạng tu hành:

1. Chúng sinh duyên từ: Pháp quán này thường dành cho hạng tu Tiểu Thừa thực hành. Chúng sinh duyên từ, nghĩa là lòng từ bi do quán sát cảnh khổ của chúng sinh mà phát khởi.

Thường thì con người chỉ có nhu cầu là nghĩ cho riêng mình. Phật dạy pháp quán từ bi tức là giúp chúng ta có tâm từ rộng lớn, quên mình và nghĩ đến tha nhân. Ðây là phương pháp đầu tiên để hòa hợp với mọi chúng sinh. Chúng ta tập phá bỏ cái tánh ích kỷ hẹp hòi để đi đến lòng thương yêu rộng lớn.

Chúng sinh tức là muốn nói đến những hạng người còn đang say mê, chìm đắm trong bể khổ sanh tử, còn đang trói mình trong vòng phiền não nhiễm ô. Như loài địa ngục bị hành phạt đủ điều, ngạ quỷ bị đói rách bứt bách, súc sanh bị cảnh dao thớt hành hình, A tu la đấu tranh, chém giết. Ðến như chúng sinh ở cõi trời tuy vui thú, nhưng vẫn còn bị ngũ suy tướng hiện, luân hồi, đọa lạc như thường. Mà vẫn hơn hết là loài người, cũng chịu không biết bao nhiêu là cảnh khổ, từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến đoàn thể. Nhất là đối với luật vô thường: sanh, già, bịnh, chết, chưa ai thoát khỏi được.

Phương pháp tu tập này tuy chưa phá bỏ được ngã chấp, nhưng cũng đã mở rộng được phạm vi hẹp hòi của cái ngã nhỏ và thể nhập vào cái ngã lớn hơn, rồi sẽ chuyển dần sang giai đoạn lý trí cao hơn, bằng phép quán "Pháp duyên từ" sau đây.

2. Pháp duyên từ: Pháp duyên từ là lòng từ bi do duyên "Pháp tánh" mà phát khởi. Ðây là pháp quán dành cho các bậc Trung thừa.

Hành giả trong khi tu pháp môn này, quán sát thấy tất cả chúng sinh, cùng mình đều đồng một "pháp giới tánh", nên chúng sinh đau khổ là mình đau khổ; vì vậy hành giả khởi lòng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Ðến địa vị này, hành giả không còn phân biệt là nam hay nữ, không còn quan niệm mình khác với người, không nghĩ rằng đó là bà con quyến thuộc, chỉ thấy mình cùng người đồng một "pháp giới tánh" mà thôi, nên khi cứu khổ, không cần biết đó là ai, và khi làm, không chấp mình đã làm. Chúng sinh có khổ thì Bồ Tát có Bi. Chỉ nhằm mục đích làm sao cho kẻ khác hết khổ được vui mà thôi.

3. Vô duyên từ: Đây là phương pháp tu tập cao siêu của hàng Ðại Thừa.

Vô duyên từ là lòng từ bi không có tâm năng duyên và cảnh sở duyên, không còn dụng công, không còn quan sát, đối đãi giữa mình với người. Lòng từ bi này xứng theo thể tánh chơn tâm mà tự khởi ra bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào. Cũng như ánh sáng mặt trời chiếu khắp mà không phân biệt, chiếu soi tất cả cảnh vật một cách vô tư và không dụng công.

Tuy nhiên, khi thực hành pháp quán từ bi trong cuộc sống thì chúng ta cần phải có trí tuệ. Bởi Trí không Bi là Trí điên đảo, Bi không Trí là Bi mù lòa. Cho nên, đạo Phật là đạo của Từ bi và Trí tuệ, hai thứ này phải luôn song hành cùng nhau.

3.3. Lợi ích của việc tu tập Quán Từ Bi.

Theo kinh Tăng Nhất A Hàm thì quán Từ bi sẽ được những lợi ích như sau:

- Khi thức hay ngủ đều được an vui

- Hiện tại được nhiều người thương

- Sống trong đời không bị tai nạn trộm cướp

- Trừ được lòng sân hận độc ác

- Dẹp được ngã chấp hẹp hòi

- Đoàn kết được với mọi người

4. QUÁN NHÂN DUYÊN

Tất cả vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều do nhân duyên giả hợp mà thành. Vạn sự vạn vật không thể một mình mà có được, nó phải nương nhờ vào nhau mà hình thành. Nói một cách khác, từ vật lớn cho đến vật nhỏ, từ vât hữu hình cho đến vô hình, đều không ngoài nhân duyên mà có. Vì thế, trong kinh Phật thường nói: "Chư pháp tùng duyên, diệc phục tùng duyên diệt". Con người cũng không ngoài nguyên lý ấy. Muốn hiểu rõ tường tận sự sanh tử luân hồi của kiếp người thì chúng ta cần phải hiểu về lý "Thập nhị nhân duyên". Để tìm ra phương pháp dứt trừ cái vòng sanh tử luân hồi.

4.1. Định nghĩa:

Sao gọi là "Nhân duyên"?

Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác, như hạt lúa làm nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật gì có tánh cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được hình thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó.

Chữ "Nhân duyên" lại có nghĩa thứ hai: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành ra cái nhà. Vì các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".

Nhân duyên được nói rõ là gồm có 12 nhân duyên:

1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lão tử.

Thập nhị nhân duyên là phép tu hành của Duyên Giác thừa, phép này chủ yếu quán sát tất cả các sự vật, cho đến luân hồi, đều do nhân duyên mà phát khởi, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt.

Mười hai nhân duyên của luân hồi là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác, trong một đời cũng như trong nhiều đời. Mười hai nhân duyên ấy là vô minh duyên ra hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhập, lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ duyên ra hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử.

Cần nhận rõ hành tướng của các nhân duyên, hiểu rõ sự tác động của nhân duyên này đối với sự phát sinh của nhân duyên khác, dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ những khâu chính trong dây chuyền 12 nhân duyên, để đi đến chứng được đạo quả của Duyên giác thừa.

1. Vô minh: Vô minh là không sáng suốt, mề lầm, không nhận được bản tính duyên khởi chân thật.

2. Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy, nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo.

3. Thức: Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác.

4. Danh sắc: Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh.

5. Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần.

6. Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc.

7. Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ.

8. Ái: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, hơn bao giờ hết.

9. Thủ: là sự chấp thủ, nắm giữ.

10. Hữu: Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết.

11. Sinh: Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống.

12. Lão tử: Lão tử là già rồi chết. Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết.

Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác trong nhiều đời. Do có vô minh qua hành ở các đời quá khứ nên duyên khởi ra thức tâm của đời này. Thức tâm ấy, theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh ra lục thập, lục thập duyên sinh ra xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã gây ra từ trước.

4.2. Phương pháp quán

1. Quán lưu chuyển. Là quán sát trạng thái sanh khởi và luân lưu của mười hai nhân duyên. Vì vô minh nên các vọng động từ từ sanh khởi (hành), thành ra có tâm (thức) và cảnh, đủ cả thế giới và chúng sinh (danh sắc); trong thân chúng sinh có sáu căn là chỗ của sáu trần thường phản ảnh vào (lục nhập), rồi căn, trần thường tiếp xúc (xúc) nhau sanh ra cảm thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa (ái), vì ưa mới giữ (thủ); do đó mà có (hữu) sanh (sanh) và già, chết (lão, tử).

Mười hai nhân duyên cũng như sợi dây chuyền có mười hai vòng, vòng này móc vào vòng kia, vòng kia móc vào vòng nọ, nối tiếp nhau không có mối manh, và liên quan cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng trong quá khứ vô minh và hành (căn bản vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại (thân đời này) là "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"; quả hiện tại (thân đời này) trở lại tạo nhân (trong hiện tại) là "ái, thủ, hữu" (chi mạt vô minh); nhân hiện tại lại sẽ thành quả vị lai (thân đời sau) là "sanh, lão, tử).

Sáu căn và sáu trần vốn thanh tịnh, nhưng do chấp ngã nên sanh ra phiền não, đau khổ.

Nói tóm lại, do vô minh nên tạo nghiệp (hành), vì tạo nghiệp nên chịu quả khổ. Từ nhân sanh quả, quả lại sanh nhân, nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi, như cái bánh xe lăn tròn trên sợi dây.

Quán sát sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong một niệm của hiện tại. Hành giả cũng có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên, chứ không cần phải quán sát ba đời. Nhưng khi đối cảnh, không rõ các pháp đều là lưu chuyển (vô minh) mà khởi vọng niệm (hành) phân biệt (thức) các cảnh vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lãnh thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tìm cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (hữu) rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh, lão, tử).

2. Quán hoàn diệt. Là quán sát sự tiêu diệt của mười hai nhân duyên. Có hai cách quán:

a) Diệt vô minh gốc rễ (căn bản vô minh). Nếu ta diệt vô minh, thì hành sẽ bị diệt, hành bị diệt thì thức cũng không có v.v...Hay nói một cách khác: do "mê hoặc" nên tạo "nghiệp", do tạo nghiệp nên mới chịu quả "khổ". Vậy muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp trước phải trừ vô minh.

 b) Diệt vô minh ngành ngọn (chi mạt vô minh). Ðối với hàng phàm phu và Tiểu Thừa, căn cơ thấp hẹp, thì không thể trực tiếp phá trừ vô minh gốc rễ, mà chỉ có thể phá trừ vô minh ngành ngọn là "ái, thủ, hữu". Khi ngành ngọn đã bị chặt rồi, thì gốc rễ dần dần bị tiêu diệt.

4.3. Lợi ích của pháp quán Nhân Duyên

Kinh chép: "Hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái nhạo hà ưu hà úy?". Nghĩa là: Bởi có tham muốn thì có lo sợ. Nếu không còn tham muốn nữa thì không có gì để lo để sợ nữa. Vì khi đối cảnh, sanh tâm tham muốn (ái), nên mới tạo tác ra các nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu). Bấy giờ, nếu đối cảnh không tham ưa (không ái), thì chẳng tìm cầu chấp thủ (không thủ), vì không chấp thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Tóm lại, mê hoặc hết (ái) thì nghiệp chẳng có (thủ), nghiệp không thì khổ chẳng còn (hữu).

Hành giả sau khi thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên này, thì sẽ trừ được tâm si mê là nguyên nhân chính của khổ đau và luân hồi của chúng sinh. Ðức Phật thường bảo: "Sự khổ ở Tam Đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí huệ mới là khổ thôi". Xem thế thì đủ biết trừ được tâm si mê và làm cho trí huệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của kẻ tu hành. Cho nên trong các kinh Trung bộ I, Tương Ưng bộ III, Tiểu bộ I, đức Phật thường dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy pháp; ai thấy pháp là thấy Như Lai”.

Hơn nữa, hành giả còn nhờ pháp quán mười hai nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi Phật chưa giáng sinh, cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh hóa của vũ trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy người ta thường gọi là Ðộc giác.

Theo kinh Nhân Quả, hai vị đại Ðệ tử của Ngài là Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên khi chưa xuất gia, nhân vì gặp được đại đức Mã Thắng nói bài kệ của đức Phật dạy là: "Chư pháp tùng duyên sanh, Diệt phục tùng duyên diệt, Ngã Phật đại Sa-môn, Thường tác như thị thuyết”. Khi nghe xong bài kệ, hai vị liền xa lìa trần cấu, chứng được đạo qủa thanh tịnh. Nên hai vị này liền đem 200 đệ tử của mình, đến xin Phật cho xuất gia làm đệ tử.

5. QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT

Phần nhiều mọi người đều nghĩ, chúng ta được sống đây chính là có một chủ thể nhất định, một cái ngã trường tồn bất biến. Chính cái ngã đó làm chủ tất cả ý nghĩ, lời nói và hành động của mình. Vì chấp ngã mà mỗi người có một thế giới riêng ngăn cách, giam hãm trong cái vỏ cứng là "cái ta" riêng biệt nên phải sống, chết, quay cuồng, điêu cứng, khổ đau vì “cái ta” ấy.

Nhưng thật ra, có một cái "Ta" như thế không? Nếu có, thì cái Ta ấy ở đâu? Trong sáu căn hay trong sáu trần, hay trong sáu thức? Muốn hiểu rõ vấn đề này một cách tường tận, chúng ta phải quán Giới Phân Biệt thì chúng ta sẽ thấy rõ được điều đó.

5.1. Ðịnh Nghĩa:

Quán Giới phân biệt: Giới có ý nghĩa là giới hạn, là phạm vi phân chia phần này với phần khác, bộ phận này với bộ phận khác. Trong thế giới Ta Bà gồm những vật hữu hình và vô hình này, mặc dù có thiên hình vạn trạng, nhưng theo triết lý của đạo Phật, thì có thể chia ra làm mười tám giới. Hay nói cách khác, đó là quán sát về nội tướng và ngoại cảnh, gồm chung là 18 giới. Chúng ta quan sát, nhận định từng phạm vi, từng giới một trong mười tám giới ấy, để xét xem có một cái ngã trường tồn bất biến, duy nhất hay không, đó tức là quán Giới phân biệt.

Mười tám giới được phân ra làm ba loại là: Sáu căn, sáu trần và sáu thức.

          1. Sáu căn: gồm có nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn.

          2. Sáu trần: là sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần.

3. Sáu thức: là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.

            5.2. Phương Pháp Quán

Pháp quán này gồm có hai phần: Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức; và quán sát sự giả dối của căn, trần và thức.

1. Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức

Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần, còn trần là phần bị động "được duyên" với căn. Nhờ có phù trần căn và tịnh sắc căn, nên con người mới có thể nhận biết các cảnh vật chung quanh trong sự sống hằng ngày.

Nếu không có căn, dĩ nhiên không có thức, thì con người không phải là con người. Họ không sáng tác, xây dựng, cải cách, tiến hóa, và thế giới này phải là thế giới "chết", mờ mịt không có ý nghĩa. Nếu không có trần, con người cũng không sống nổi. Thức lại tác động vào căn và trần làm cho cuộc sống càng thêm tiến bộ, sung túc thịnh vượng.

Ba thứ này ảnh hưởng lẫn nhau, nó không độc lập riêng biệt. Mười tám giới này gồm cả thế giới và nhân sinh, cả vật vô tình và vật hữu tình. Một khi chúng đã không tự lập, thì trong vũ trụ này, không có một vật gì, kể cả con người, cả cái ngã, do chúng cấu tạo ra lại có thể biệt lập, thuần nhất được.

           2. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức.

Chúng ta quán sát xem cái ngã có thể có trong một phần nào của căn, trần và thức chăng?

a) Sáu căn là ngã chăng? Trước tiên, chúng ta hãy xét bản chất của sáu căn là gì? Chính là một khối xương da máu thịt, hợp lại có trật tự, có tổ chức, chứ không gì khác. Mà đã là thịt da, xương máu thì không có gì là bền bỉ, thuần nhất. Và sau một trăm năm, thử hỏi thể xác ấy sẽ còn lại gì, ngoài "nắm cỏ khâu xanh rì"?

Giả sử có một cái ngã ở sáu căn, thì cái ngã ở nơi mắt, thì năm căn kia không phải là ngã. Nếu cái ngã ở nơi tai, thì năm căn kia không phải là ngã. Lần lượt xét cả sáu căn, chúng ta không thể nói được cái ngã ở một phần nào trong sáu căn. Nếu cho rằng sáu căn đều là ngã, thì thành ra con người có đến sáu cái ngã. Nói thế chắc không ai công nhận được. Nếu do sáu căn hòa hợp mà có cái ngã, thì cái ngã ấy cũng chỉ là không thật, là giả hợp.

b) Sáu trần là ngã chăng? Trần với căn không khác gì mấy. Căn đã không tự tại trong cuộc sinh tồn, thì trần làm sao đứng vững, còn hoài.?

Giả sử, "ngã" nằm trong sắc, thì trên thế giới này phải không có sự đổi trắng, thay đen. Như hoa nở rồi tàn, hết ngày rồi đêm, bãi bể biến thành vườn dâu, cuộc đổi thay đã bày rành rành ra trước mắt. Cho đến thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều là vô thường, vô ngã như sắc cả, nên sự vô ngã của chúng lại càng rõ rệt hơn nhiều.

c) Sáu thức là ngã chăng? Thức là sự nhận biết do căn và trần đối nhau mà có. Ðiều ấy đã chứng minh rằng thức không thật có.

Xét từ trong đến ngoài, từ duyên đầu đến duyên chót, nhãn thức đã không có mảy may gì là chơn thật cả. Các thứ kia như nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức cũng như vậy cả. Xem thế thì đủ rõ sáu thức đều là không thật, nghĩa là cũng vô ngã như sáu căn và sáu trần.

Tóm lại, từ căn thân cho đến thế giới, gồm trong mười tám giới, đều không thật có, không thật ngã. Hành tướng do nhân duyên hòa hợp thì có, nhưng thật thể thì hoàn toàn không.

          5.3. Lợi ích của Pháp Quán Giới Phân Biệt

Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan sự ngã chấp. Cái ngã đã bị phân tán, chia xẻ. Khi Ngã chấp đã không còn, thì ngã ái, ngã mạn cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Do đó các phiền não, ác nghiệp, khổ đau cũng sẽ hết, thì an vui, tự tại hiện ra. Ðó là cái kết quả chắc thật đầu tiên của pháp quán Giới Phân Biệt.

Từ sự an vui, tự tại ấy, hành giả sẽ cố gắng tiến dần trên đường đạo. Hành giả sẽ dần dần chứng được các quả vị Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Nhưng không dừng lại ở các quả vị ấy mà còn tiến dần đến các quả vị Thanh văn, Duyên giác. Nếu cố gắng tu tập tiếp tục thì hành giả sẽ đến bực "Vô trí, vô đắc", tức là chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.

C. KẾT LUẬN

Ngũ Đình Tâm Quán là pháp tu căn bản của hàng đệ tử Đức Phật. Quán sổ tức giúp chúng ta đối trị sự tán loạn của tâm trí, và diệt trừ được lòng tham sắc dục qua pháp Quán Bất tịnh, đối trị lòng sân hận thì Quán Từ bi. Muốn trừ si mê thì Quán Nhân duyên, phá tan được ngã chấp thì quán Giới phân biệt. Ngũ Đình Tâm Quán là một phương pháp tu đem lại sự an tĩnh tâm hồn, giúp thân tâm thanh tịnh. Tu tập pháp môn này có khả năng chuyển mê khai ngộ, chuyển phàm thành Thánh, đoạn phiền não chứng Bồ Đề, lìa sanh tử, thành tựu Niết Bàn.

Ngũ Đình Tâm Quán là năm phương thuốc thần diệu để chửa lành những căn bệnh vô minh, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng sinh. Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Thế Tôn dạy: “tất cả chúng sanh đều đầy đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên không chứng đắc”. Hiểu rõ điều này, hành giả phải nỗ lực, kiên trì tu tập theo phương pháp Ngũ Đình Tâm Quán để phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, chứng đắc Niết Bàn.

 

BÀI 2

A. DẪN NHẬP

Trong Kinh Đại Bảo Tích, đức Phật cho biết là thân con người có 404 thứ bịnh. Còn tâm thì có vô số loại bịnh mà kinh thường diễn đạt là 84.000 phiền não trần lao. Đó là những căn bịnh nan y như tham, sân, si, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước…. Thân bịnh thì mua thuốc uống hay tìm bác sĩ để khám trị bịnh. Còn tâm bịnh thì chỉ có thuốc chánh pháp của Phật mới có thể chửa trị hết tận gốc rễ. Thuốc thì không có mắc rẻ, trị hết bệnh là thuốc hay. Pháp không có cao có thấp, hợp cơ là pháp diệu. Đức Phật là bậc đại y vương. Những lời dạy của Ngài chính là thuốc hay, là linh đơn diệu dược. Trong vô số những bài thuốc thần kỳ, mầu nhiệm này, có một bài thuốc vô cùng linh diệu. Phương thuốc này có năm vị thuốc, có công năng giúp cho thân khỏe, tâm an định, đem lại sự giác ngộ, giải thoát cho hành giả. Thần dược này có tên gọi là Ngũ Đình Tâm Quán.

B. NỘI DUNG

I. XUẤT XỨ

            Ngũ Đình Tâm Quán được hình thành qua kim khẩu của Đức Thế Tôn thuyết giảng trong các bài kinh như: Kinh Tứ Niệm Xứ, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, Kinh Thân Hành Niệm…  Được Chư Tổ gom góp lại thành phương pháp để tu tập. Phương pháp này còn được gọi là “Như Lai Thiền” tức là phương pháp Thiền quán của đức Như Lai chỉ dạy để hành giả tu tập, mà quả vị chứng đắc cao nhất là Tứ quả Thanh Văn, Duyên Giác, đây là thiền nguyên thủy. Theo Câu Xá Luận: Ngũ Đình Tâm Quán được gọi là Quán Niệm, về sau này được dịch là: Thiền Chỉ Quán, hay Thiền Quán.

II. ĐỊNH NGHĨA

Ngũ đình tâm quán là năm pháp quán tưởng để dừng vọng tâm.

Năm pháp quán tưởng là:

1. Quán sổ tức, để đối trị bệnh tán loạn của tâm trí.

2. Quán bất tịnh, để đối trị lòng tham sắc dục.

3. Quán từ bi, để đối trị lòng sân hận.

4. Quán nhân duyên, để đối trị lòng si mê.

5. Quán giới phân biệt, để đối trị chấp ngã, chấp pháp.

III. HÀNH TƯỚNG CỦA NGŨ ĐÌNH TÂM QUÁN

1. QUÁN SỔ TỨC

1.1. Định Nghĩa

Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ là đếm; tức là hơi thở. Quán Sổ tức là tập trung tâm trí để ý, quan sát hơi thở ra vào của mình, mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn. Nói đơn giản là đếm hơi thở.

1.2. Phương pháp quán

Khi đã ngồi yên ổn, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều hòa và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên.

Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền não: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không còn một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào bủa khắp thân tâm".

Khi đủ mười hơi rồi, hành giả bắt đầu thở đều đều, không dài không ngắn, không mau không chậm, phải thở nhẹ nhàng. Nếu thở mau và dài thì tâm sanh loạn động, còn thở chậm và ngắn, thì tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất kiết, có khi lại sanh ra giải đãi, rồi tâm dong ruổi duyên theo ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, thì trong người mới được thư thới khỏe khoắn.

Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau:

1. Đếm hơi lẻ: Nghiã là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại, trong khoảng thời gian ít hay nhiều tùy ý.

2. Đếm hơi chẵn: Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười. Phương pháp đếm hơi chn này rất thông dụng, xưa nay người ta vẫn thường dùng và đếm dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).

3. Đếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được, nhưng tuần tự từ một đến mười.

4. Đếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.

Bốn phương pháp này, tùy ý hành giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho mình là thành công, nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.

1.3. Lợi ích

Quán Sổ tức là một phương pháp đối trị tâm tán loạn rất hiệu nghiệm và rất thông dụng trong các tông phái của Phật giáo, từ Tiểu Thừa cho đến Đại Thừa, từ các nước Á Châu đến Tây phương. Nhất là trong các giới Phật tử Nhật bản và Âu châu, pháp quán này rất được thịnh hành. Người tu hành áp dụng pháp quán này thì tâm hết tán loạn, niệm Phật mau được "nhất tâm bất loạn", tham thiền quán tưởng mau được thành công.

Không những kẻ tu hành, người thế gian nếu hành trì pháp quán này, thì thân thể được khỏe mạnh, tinh thần được yên tịnh thư thới, trí tuệ lại sáng suốt, học hành mau nhớ, suy tính, phán đoán công việc làm ăn được mau lẹ và phân minh.

Trong mọi công việc gì cũng vậy, muốn thành công, tất phải kiên nhẫn bền chí. Phương pháp dù hay tốt bao nhiêu mà thiếu chuyên tâm trì chí, thì cũng không đưa đến kết quả tốt đẹp. Cổ nhân cũng dạy: "Giả sử có một thứ ging gì dễ trồng, mà một ngày nắng, mười ngày lạnh, thì giống đó cũng khó sinh". Vậy hành giả đừng nên thấy phép quán này dễ mà khinh lờn, giãi đãi.

2. QUÁN BẤT TỊNH

Mục đích của phép quán thứ hai này là để hành giả nhàm chán nhục thân, xả ly sắc dục, tham ái, tự ngã của mình. Cổ đức nói: “Thân thể con người là tổng hợp các thành phần ô trược, dung nhan diễm lệ, dáng dấp yểu điệu, lộng lẫy… chẳng qua là cái đãy chứa vật nhơ uế mà thôi.

Bởi vì:

“Đời là mộng sao ta còn mê mãi,

Tấm thân này do tứ đại hoá duyên.

Đưa ta vào trong biển khổ triền miên

Mà cứ tưởng sống trên đường hạnh phúc”.

2.1. Định Nghĩa

"Bất tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, không trong lành. Quán Bất tịnh tức là quán sát một cách tỷ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch, như hầu hết người đời đều lầm tưởng.

2.2. Phương Pháp quán

Có năm cách quán sát về thân thể như sau:

- Quán chủng tử bất tịnh

- Quán trụ xứ bất tịnh

- Quán tự tướng bất tịnh

- Quán tự thể bất tịnh

- Quán chung cánh bất tịnh

2.3. Lợi ích của quán Bất tịnh

Có người hỏi: Tại sao trong khi cuộc đời đã xấu xa, đau khổ, đức Phật lại còn vạch thêm cho người ta thấy cái dơ bẩn nhớp nhúa của thân người làm gì? Tại sao không cho người đời có cái ảo ảnh rằng thân người là đẹp đẽ, trong sạch để họ có thể được an ủi và quên lãng một phần nào cái xấu xa của kiếp người, mà lại làm cho đời thêm chán chường, tuyệt vọng khi nhận rõ cái thân bất tịnh của mình?

Trước tiên, chúng ta phải nhận định dứt khoát rằng: Đạo Phật là "Đạo như thật", đạo của chân lý. Đức Phật không muốn lừa phĩnh chúng sinh, lấy xấu xa làm tốt, lấy dở làm hay, hoặc trái lại.

Thứ đến, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: chính cái vọng tưởng rằng thân người là thơm sạch, đẹp đẽ đã gây tai họa lớn cho người đời. Vì lầm tưởng thân người có giá trị quý báu, nên đối với chính thân mình thì người ta nâng niu, cưng dưỡng, tìm hiểu mọi cách, không từ một hành vi xấu xa nào để nuôi dưỡng phụng sự nó. Vì sự đánh lầm giá trị, tham đắm sắc thân giả dối ấy mà cuộc đời đã xấu xa lại càng thêm xấu xa, đã đen tối lại càng thêm đen tối.

Lại nữa, khi đã đánh lầm giá trị lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy thúi làm thơm, thì tất nhiên cái đẹp cái hay, cái thơm chân thật sẽ bị bỏ rơi, không còn được biết và dùng đến. Loài người đã vì tham đắm cái xác thân nhỏ hẹp, xấu xa, ngắn ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng lớn đẹp đẽ trường tồn. Vậy đức Phật khi đã xé tan cái màn ảo ảnh bao bọc xác thân và làm lộ nguyên hình cái xác thân bất tịnh là nhắm mục đích hướng tầm mắt và sự hoạt động của người tu hành vào cái giá trị chân thật, rộng lớn và trường tồn hơn.

Chúng ta đừng nên kết luận một cách sai lầm rằng: cái thân này đã là bất tịnh, thối tha, thì hãy diệt ngay nó đi, như năm chục vị Tỳ kheo đã làm, sau khi nghe Phật thuyết pháp về cái thân bất tịnh. Đức Phật thường dạy: Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Trong kinh Lăng nghiêm, Ngài lại phát minh Phật tánh "bất sinh diệt" trong cái sinh diệt. Nó thì vô hình nhưng không mất, lẫn lộn trong "bất tịnh" mà thường thanh tịnh. Biết lợi dụng cái thân bất tịnh, vô thường này, mà tìm ra cái "tịnh" cái "thường", ấy chính là bổn ý của đức Phật khi dạy pháp quán tưởng này.

Người đời bị phiền não tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt nên say mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không thấy được bản tâm thanh tịnh. Muốn chận đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, đức Phật dạy phải quán bất tịnh. Vậy quán bất tịnh có mục đích đối trị lòng tham sắc dục, chứ không phải để chán đời, tự hủy diệt mình. Từ đó dứt trừ vọng niệm và giác ngộ Phật tánh, để tiến mạnh trên đường giải thoát cho mình và cho người.

3. QUÁN TỪ BI

3.1. Định Nghĩa

Phật dạy: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ". Nghĩa là Từ cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài. Từ bi nói dễ hiểu là cứu khổ, ban vui.

Từ nghĩa là lòng thương yêu vô cùng rộng lớn đối với toàn thể chúng sanh, thành thật ước mong tất cả chúng sanh đều được an lành, hạnh phúc, từ đó gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. Ngược lại với tâm Từ là lòng sân hận.

Bi là lòng thương xót rộng lớn, làm cho tâm rung động trước những nỗi đau của chúng sanh, và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ đó.

3.2. Phương Pháp quán

Quán Từ bi có ba từng bậc thấp cao, tùy theo căn cơ của ba hạng tu hành. Đó là quán chúng sanh duyên từ, quán pháp duyên từ và quán vô duyên từ.

3.2.1. Quán chúng sinh duyên từ. 

Chúng sinh duyên từ, nghĩa là lòng từ bi do quán sát cảnh khổ của chúng sinh mà phát khởi. Đức Phật có dạy chúng ta phải quán sát tất cả chúng sinh trong lục đạo, mười phương đều như bà con thân thuộc. Đây là phương pháp đầu tiên để hòa hợp với mọi chúng sinh. Dùng cảm tình mà tập quán Từ bi. Trước kia, chúng ta có thói quen là cái gì ngoài "ta" thì ít khi quan tâm đến. Giờ đây, quán từ bi tức là chúng ta đã phá bỏ cái vỏ ích kỷ hẹp hòi ấy mà giác ngộ và nhận định rằng: “Thế giới của loài người chúng ta đang ở đây, tỷ như một cái nhà lớn, nơi sum họp và đoàn kết của đại gìa đình. Vẫn biết rằng nhân loại khác nhau về màu da, chủng tộc; những cái khác đó chẳng qua là khác về bề ngoài, chứ đã là người thì ai ai cũng có một thân hình xương thịt như nhau, cũng đồng sợ khổ thích vui, biết xấu biết tốt v.v...Vì thế đối với người lớn tuổi, ta phải kính trọng như ông bà cha mẹ; người ngang hàng hay tuổi xấp xỉ, xem như anh chị em ruột thị; người nhỏ tuổi hơn nữa xem như con cái cháu chắt...”

Tất cả mọi loài chúng sanh, khi đã có mạng sống thì đều ham sống sợ chết. Đã là chúng sinh, thì tất nhiên đồng chung một nguồn sống, đều biết cảm nỗi vui sướng và khổ đau. Các loài chúng sanh khác, tuy chúng không biết nói như chúng ta, nhưng nếu chúng ta đối đãi tử tế, chúng cũng biết thương mến và trung thành với ta. Chẳng qua vì nghiệp nặng, nên đời này chúng làm súc vật, nhưng biết đâu đời trước, chúng có thể là anh em thân thuộc của ta?

Phương pháp tu tập này tuy chưa phá được ngã chấp, những cũng đã mở rộng được phạm vi hẹp hòi của cái ngã nhỏ và thể nhập vào cái ngã to hơn là đại gia đình; rồi từ cái ngã to tình cảm ấy, sẽ chuyển dần sang giai đoạn lý trí cao siêu hơn, bằng phép quán "Pháp duyên từ" .

3.2.2. Quán Pháp duyên từ.

Pháp duyên từ là lòng từ bi do duyên "Pháp tánh" mà phát khởi. Hành giả trong khi tu pháp môn này, quán sát thấy tất cả chúng sinh, cùng mình đều đồng một "pháp giới tánh", nên chúng sinh đau khổ là mình đau khổ; vì vậy hành giả khởi lòng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Đến địa vị này, các Ngài không còn phân biệt là nam hay nữ, không còn quan niệm mình khác với người, không nghĩ rằng đó là bà con quyến thuộc, chỉ thấy mình cùng người đồng một "pháp giới tánh" mà thôi. Bồ Tát đã nhận chúng sinh và mình đồng một bản thể, nên khi cứu khổ, không cần biết đó là ai, và khi làm, không chấp mình đã làm. Chúng sinh có khổ thì Bồ Tát có Bi. Sự thông cảm tự nhiên ấy như tình thiêng liêng giữa mẹ và con, hễ có cảm là có ứng, như tánh sốt sắng của vị y sĩ có lương tâm nhà nghề, hễ thấy bịnh thì liền trị. Với ý nghĩa này, trong kinh Trung A Hàm có tỷ dụ: Trước một nạn nhân bị trúng tên độc ấy, vị lương y liền lấy ra lập tức. Ông không cần phải hỏi người ấy tên gì, ở đâu, con ai, cũng không cần coi cây tên ấy làm bằng gì, ai bắn v.v...

Sự cứu khổ cho chúng sinh, đối với các vị Bồ Tát đã chứng được "pháp duyên từ" này cũng như thế, chỉ nhằm mục đích làm sao cho kẻ khác hết khổ được vui mà thôi.

3.2.3. Vô duyên từ.

"Vô duyên từ" là một loại cao siêu đặc biệt của Đại Thừa, chúng ta chưa đủ căn cơ, trình độ tu tập. Tuy nhiên, để có một ý niệm đầy đủ về lòng từ bi, chúng ta cũng nên biết qua về loại này.

Vô duyên từ, là lòng từ bi không có tâm năng duyên và cảnh sở duyên, không còn dụng công, không còn quan sát, đối đãi giữa mình với người. Lòng từ bi này xứng theo thể tánh chơn tâm mà tự khởi ra bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào. Cũng như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cả gần xa, không phân biệt thấp cao, không chú ý một nơi nào, chiếu soi tất cả một cách vô tư và không dụng công.

3.3. Lợi ích

Khái lược theo kinh Tăng Nhất A Hàm thì quán Từ bi sẽ được những lợi ích như sau:

a) Khi thức hay ngủ đều được an vui

b) Hiện tại được nhiều người thương

c) Sống trong đời không bị tai nạn trộm cướp

Mạnh Tử nói: “Lòng trắc ẩn là căn bản của lòng nhân; tâm xấu hổ là nền tảng của nghĩa; tâm từ bi nhường nhịn là là gốc rễ của lễ; tâm không thị phi là cội nguồn của trí”.

Khi thực hành pháp quán từ bi, không phải chỉ để cho chúng ta cầu những quả báo lợi ích riêng cho mình, mục đích của pháp quán từ bi là cốt làm sao cho chúng ta và mọi chúng sinh trong lục đạo đều khỏi khổ được vui. Lẽ tất nhiên, trong khi tu chúng ta sẽ thành tựu được những điều sau:

- Trừ được lòng sân hận độc ác

- Dẹp được ngã chấp hẹp hòi

- Đoàn kết được với mọi người

- Đời sống cá nhân và đoàn thể nhờ thế được vui vẻ, có ý nghĩa.

Từ bi là một phương thuốc trị tâm sân hận. Sân hận là đầu mối sát hại ghê gớm, là cái chìa khóa của tất cả kho tội lỗi. Nếu nó được tiêu trừ thì cuộc sống con người sẽ hiểu và yêu thương nhau nhiều hơn, giữa người và người, giữa người và vật sẽ có sự liên lạc đoàn kết mật thiết chan hòa trong tình thương của Nhà Phật.

Thật là:

“Tâm từ rãi khắp muôn phương

Tâm bi hiện hữu mười phương chan hòa.

Lòng người nở một đóa hoa

Chúng sanh lợi lạc, tình thương chan hòa”.

4. QUÁN NHÂN DUYÊN

4.1. Định Nghĩa

Sao gọi là "Nhân duyên"? Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật gì có tánh cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được hình thành.

Tất cả sự vật không một vật nào riêng biệt mà tồn tại được. Chúng phải nương tựa vào nhau mới thành vật này hay vật khác. Đó là lý duyên sanh, hay trùng trùng duyên khởi. Riêng về loài hữu tình như kiếp người chẳng hạn, thì do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sanh tử dài vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai.

4.2. Thành phần của 12 nhân duyên

Mười hai nhân duyên gồm có: 1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. thọ, 8. Ái, 9. thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lão tử.

Tùy theo cái tác dụng của nó mà mười hai nhân duyên ấy có thể chia làm ba nhóm là: Hoặc (mê mờ), Nghiệp (tạo tác) và Khổ (kết qủa).

 

image

4.3. Phương pháp quán

Muốn dứt trừ chuỗi sanh tử dài trong biển khổ đau của cõi tục, phải quán mười hai nhân duyên. Pháp quán này có hai phần là quán lưu chuyển và quán hoàn diệt:

4.3.1. Quán lưu chuyển

Quán lưu chuyển là quán hiện tượng sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên từ vô minh, hành, thức...đến lão, tử. Trong khi quán lưu chuyển, hành giả có thể chỉ quán sát sự sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

4.3.2. Quán hoàn diệt

Quán hoàn diệt là quán theo phương pháp làm cho mười hai nhân duyên phải tiêu diệt. Có hai pháp quán hoàn diệt:

a) Diệt vô minh gốc rễ (căn bản vô minh). Muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp trước phải trừ vô minh.

b) Diệt vô minh ngành ngọn (chi mạt vô minh). Là phá trừ vô minh ngành ngọn như "ái, thủ, hữu". Khi ngành ngọ đã bị chặt rồi, thì gốc rễ dần dần bị tiêu diệt, như bụi tre mà bị xắn hết cả măng, thì sẽ phải tàn rụi.

Ngoài ra Pháp quán này lại chia ra làm hai là quán lý và quán sự:

Quán lý: là quán các pháp không thật có (hữu) nên không chấp thủ (thủ); bởi không chấp thủ nên không tham ái (ái).

Quán sự: là áp dụng cái lý đã quán ở trên trong hoàn cảnh thực tại: Hành giả phải cố gắng thực hiện sao cho khi đối cảnh không khởi tâm tham ái (ái), nhờ không tham ái mới không tạo tác tìm cầu (thủ); do không tìm cầu nên không có (hữu) thọ quả sanh tử về sau.

4.4. Lợi ích của pháp quán mười hai nhân duyên

Hành giả sau khi thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên này, thì sẽ trừ được tâm si mê là nguyên nhân chính của khổ đau và luân hồi của chúng sinh. Đức Phật thường bảo: "Sự khổ ở tam đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí huệ mới là khổ thôi". Xem thế thì đủ biết trừ được tâm si mê và làm cho trí huệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của người tu hành.

Hơn nữa, hành giả còn nhờ pháp quán mười hai nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi Phật chưa ra đời, cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh hóa của vũ trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy được gọi là Độc giả, nghĩa là tự nghiên cứu một mình mà được giác ngộ. Đến khi Phật giáng sinh, chỉ dạy pháp quán nhân duyên, nhiều người y theo pháp quán này tu hành mà được giác ngộ, nên gọi là "Duyên giác" (nghĩa là những vị giác ngộ nhờ quán mười hai nhân duyên).

5. QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT

5.1. Định nghĩa

Giới có ý nghĩa là giới hạn, là phạm vi phân chia phần này với phần khác, bộ phận này với bộ phận khác.

Trong thế giới Ta Bà gồm những vật hữu tình và vô tình, mặc dù có thiên hình vạn trạng, nhưng theo triết lý của đạo Phật, thì có thể chia ra làm mười tám giới (loại, phạm vi). Vận dụng trí tuệ để quan sát, nhận định từng phạm vi, từng giới một trong mười tám giới ấy, để xét xem thử có một cái ngã trường tồn bất biến, duy nhất hay không, đó tức là quán Giới phân biệt.

5.2. Phân giải mười tám giới

Mười tám giới có thể phân ra ba loại lớn: Sáu căn, sáu trần và sáu thức.

5.2.1. Sáu căn

Căn tức là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nẩy nở, phát sinh. Sáu căn ở đây tức là: nhăn căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn.

5.2.2. Sáu trần

Trần, nghĩa đen là bụi. Bụi thì nhơ nhớp luôn luôn dời đổi lăng xăng, tụ tán không chừng. Nghĩa bóng, trần tức là chỉ cho phần vật chất, cảnh vật chung quanh con ngươi. Sáu trần là: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần.

5.2.3. Sáu thức

Thức là sự phân biệt, hiểu biết, phán đoán do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sinh. Nó thuộc về tâm pháp (vô hình). Sáu thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.

5.3. Phương pháp quán

Sau khi chúng ta đã biết được rõ ràng phạm vi và công năng của mỗi giới trong mười tám giới rồi, đến đây, chúng ta có thể bắt đầu tập phương pháp quán. Pháp quán này gồm có hai phần: Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức; và quán sát sự giả dối của căn, trần và thức.

5.3.1. Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức.

Vẫn biết căn là một nội sắc, nhưng chúng ta rất quan hệ mật thiết. Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần, còn trần là phần bị động "được duyên" với căn. Nhờ có căn phù trần và tịnh sắc, nên con người mới có thể nhận biết các cảnh vật chung quanh trong sự sống hằng ngày.

5.3.2. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức

Sáu căn là ngã chăng? Thân thể của chúng ta chỉ là một khối xương da máu thịt, hợp lại có trật tự, có tổ chức, chứ không gì khác. Mà đã là thịt da, xương máu thì không có gì là bền bỉ, thuần nhất.

Sáu trần là ngã chăng? Trần với căn không khác gì mấy. Căn đã không tự tại trong cuộc sinh tồn, thì trần làm sao đứng vững, còn hoài.?

Sáu thức là ngã chăng? Thức là sự nhận biết do căn và trần đối nhau mà có. Ðiều ấy đã chứng minh rằng thức không thật có.

Tóm lại, từ căn thân cho đến thế giới, gồm trong mười tám giới, đều không thật có, không thật ngã. Hành tướng do nhân duyên hòa hợp thì có, nhưng thật thể thì hoàn toàn không.

5.4. Lợi ích của pháp quán Giới Phân Biệt

Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan cái ngã. Ngã chấp đã không còn, thì ngã ái, ngã mạn cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Nói một cách khác, phiền não, ác nghiệp, khổ đau, do ngã chấp mà sanh. Nay ngã chấp đã bị diệt, thì phiền não khổ đau cũng sẽ hết. Phiền não, khổ hết thì an vui, tự tại tức thời hiện ra. Đó là cái kết quả chắc chắn thật đầu tiên của pháp quán giới phân biệt.

Hành giả nương vào công phu sẵn có, rồi cố gắng tiến dần trên đường đạo, sẽ dần dần chứng được các quả vị Tu đà hoàn, Tu đà hàm, A na hàm, A La Hán. Nếu không cố chấp ở quả vị đã chứng được của mình, tiếp tục tu tập sẽ giải thoát được tam giới, làm bực Thanh văn, Duyên giác.

Phương pháp quán này còn được xem là ngọn đèn lớn chiếu sáng để diệt trừ bóng tối si mê và bước dần lên các quả Thánh. Như Cổ Đức nói:

“Từ đây cõi Thánh bước lần

Bồ đề thêm lớn muôn phần cao xa”.

III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGŨ ĐÌNH TÂM QUÁN

Trên bước đường tìm về “Bảo sở” luôn gặp những chông gai, trắc trở và thử thách rất lớn đối với “hành giả”, nên Ngũ Đình Tâm Quán là pháp quán tìm lại chính mình trong cuộc sống hiện tại và tương lai được an vui giải thoát.

Ngũ Đình Tâm Quán là năm phương pháp tu tập thiền định quan trọng, đem lại nhiều lợi ích thiết thực trong đời sống tu tập, tiến dần đến giải thoát:

            - Khi chúng ta thực hành phương pháp Quán Sổ Tức thì giúp cho tâm luôn định tĩnh, không bị tán loạn, luôn sống trong chánh niệm, trong từng sát na sanh diệt.

- Khi thực hành phương pháp Quán Bất Tịnh, giúp chúng ta nhận rõ được thân người là bất tịnh, là cấu uế, không thật, nên không bao giờ sanh tâm tham đắm sắc dục. Và từ thân bất tịnh này chúng ta nỗ lực tu tập sẽ chứng thành thân chơn tịnh thường trú.

            - Khi thực hành pháp Quán Từ Bi, giúp chúng ta luôn mở rộng tình yêu thương đến mọi người, mọi loài, không đem lại sự hận thù, than oán. Bởi vì “Hận thù diệt hận thù, không đời nào diệt được. Từ Bi diệt hận thù, là định luật ngàn thu”.

- Khi chúng ta thực hành phương pháp Quán Nhân Duyên, giúp chúng ta thấu rõ được nguyên nhân tạo nên sanh tử luân hồi, dứt hết si mê, chứng đạt quả vị Duyên giác Phật, hay Bích Chi Phật.

- Khi thực hành pháp Quán Giới Phân Biệt, giúp chúng ta nhận ra được tự tướng và tánh của các căn, trần và thức, không còn sự bám víu chấp thủ, đoạn trừ ngã chấp.

C. KẾT LUẬN

Ngũ Đình Tâm Quán là năm phương pháp tu tập thiền quán, giúp cho hành giả đoạn trừ vọng tâm chứng ngộ chân tâm, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn, giải thoát. Đây còn là năm phương pháp đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực trong đời sống tu tập, không chỉ nơi người con Phật mà tất cả những ai thực hành theo. Đức Phật, Ngài là một một bậc Thiên Nhơn Chi Đạo Sư, là bậc Vô Thượng Y Vương, biết bệnh cho thuốc và giúp chúng sanh đoạn trừ những lậu hoặc phiền não, đem lại an vui tự tại.

Là đệ tử Phật, thì phải am hiểu giáo lý mà Đức Phật đã chỉ dạy trong suốt 49 năm. Hãy lấy đó làm nền tảng cơ bản để chúng ta quán chiếu và thực hành một cách rốt ráo trong việc tu tập, hầu sớm đạt được an lạc, giải thoát.

 

BÀI 3

A. DẪN NHẬP

Vọng tâm là căn bệnh chính đã mang đến không ít phiền não, khổ đau cho con người. Nó thúc đẩy làm cho người ta chạy theo dục vọng, che mờ tâm thức, làm cho cái tâm - vốn sáng suốt trở nên tối tăm, không phân biệt đâu là thật, đâu là giả, đâu là thiện, đâu là bất thiện,…

Tâm không định, thân không an thì làm sao có được an lạc. Không có niềm vui thì khổ đau tràn ngập, nên Nhà Hiền triết Ấn Độ có lần nói: “Trong đời sống trăm năm chẳng thấy ai hưởng được ngày vui trọn vẹn”. Đức Phật dạy rằng:“Tâm có định mới phát sanh trí tuệ, có trí tuệ mới phá trừ được vô minh để minh tâm kiến tánh”. Vậy muốn dừng tâm lại một chỗ, không bị loạn động bởi trần cảnh tác động, hầu mong có được đời sống an vui, hạnh phúc thì “Ngũ Đình Tâm Quán” là  một trong những phương pháp tu trì để giúp chúng ta chế ngự thân và an định tâm.

Vậy Ngũ Đình Tâm Quán là gì? Công năng, lợi ích tu tập như thế nào thì chúng ta cần tìm hiểu qua nội dung sau đây.

B. NỘI DUNG

I. ĐỊNH NGHĨA

Ngũ: là chỉ cho số đếm, là 5; Đình: là dừng lại, ngưng lại; Tâm: là chỉ cho tư tưởng của con người. Tâm thì có Chơn tâm và Vọng tâm, hay Tâm vương và Tâm sở.

     1. Chơn tâm: còn gọi là “Phật tánh”, “Thể tánh” mà trong kinh Đức Phật thường đề cập đến: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như ta không khác”. Tâm này vốn thanh tịnh, ai ai cũng đều sẵn có. Tâm này vốn thường hằng nơi mỗi chúng sanh, không bao giờ bị hoại mất.

     2. Vọng tâm: là tâm phân biệt, vọng tưởng, buồn, vui, giận hờn, thương ghét..., tâm lăng xăng, không bao giờ ở yên một chỗ, hay nói khác hơn, đó là những vọng thức sai lầm, không đúng chân lý do bị vô minh, tham ái che lấp.

Quán: là quan sát tường tận, sâu sắc; xem xét minh bạch, rõ ràng, kĩ lưỡng; phân tích, tư duy hay suy nghiệm thấu đáo về một vấn đề nào đó.

Vậy, Ngũ Đình Tâm Quán là năm phương pháp quán căn bản để chế ngự thân và chận đứng vọng tâm, nhằm đối trị năm chứng bệnh nơi tâm thức mà chúng sanh hay mắc phải, là:

1. Quán Sổ tức: để đối trị bệnh tán loạn của tâm ý.

2. Quán Bất tịnh: để đối trị lòng tham sắc dục.

3. Quán Từ bi: để đối trị lòng sân hận.

4. Quán Nhân duyên: để đối trị lòng si mê.

5. Quán Giới phân biệt: để đối trị chấp ngã.

Năm pháp quán này ta phải hành trì để phá trừ vô minh. Điều tất yếu là chúng ta phải nắm vững, quán triệt từng bước tu trì để minh tâm kiến tánh.

          II. THÀNH PHẦN CỦA NGŨ ĐÌNH TÂM QUÁN

1. QUÁN SỔ TỨC

1.1. Định nghĩa:

Sổ tức là đếm hơi thở. Quán Sổ tức là tập trung tâm trí để đếm hơi thở vào, ra của mình, mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn, khám phá nội tâm, soi sáng lẽ đạo.

1.2. Vì sao phải đình chỉ tâm tán loạn ?

Tâm trí chúng ta bị muôn việc ở đời chi phối, nhất là trong thế giới công nghiệp hiện đại và cuộc sống phức tạp ngày nay thì đời sống vật chất được đề cao, đời sống tinh thần bị xem nhẹ, nên con người luôn hướng ngoại tìm cầu, vì thế mà phiền não, tham dục luôn khuấy động tâm mình. Theo các bản thống kê của các nhà y học và tâm lý học thì số người trên thế giới mắc bệnh điên, trầm cảm, streat và số người tự tử mỗi ngày mỗi nhiều hơn.

Vậy hành giả, muốn cho tâm được an tịnh thì phải đừng cho nó tán loạn, nghĩa là phải định tâm, định càng thâm thì tâm càng tỏ, như ngọn đèn càng đứng lặng, thì ánh sáng càng tỏa rạng. Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trừ được vô minh để minh tâm kiến tánh". Vì thế mà đức Phật dạy ta phép quán Sổ tức, nghĩa là đếm hơi thở ra vào. Ví dụ: hít vào, thở ra hơi thứ nhất ta biết rõ là hơi thứ nhất. Hít vào, thở ra hơi thứ hai ta biết rõ là hơi thứ hai. Mình biết rõ hơi thở ra vô đó là dài hay ngắn, mạnh hay yếu, chẳn hay lẽ…

Tâm trí chúng ta luôn bị lục căn lục trần chi phối như Cổ đức nói: “Lục căn lục trần, tạo tác vô biên chi tội”. Tâm ta khi vui khi buồn, lo việc này, suy nghĩ chuyện khác, khi mừng giận, khi thương ghét, không bao giờ được định tĩnh.

Bởi:

Con người cái ý vốn hai

Khi mừng khi giận đổi thay không lường

Vội vàng khi ghét khi thương

Khi vui, vui ngất; khi buồn, buồn thiu.

Thân ngồi yên mà tâm trí vẫn động, đôi khi làm cho ta bực bội, không muốn nhớ mà vẫn nhớ, không muốn thương mà vẫn thương, không muốn giận mà vẫn giận. Ta càng xua đuổi thì nó càng bám theo làm rối ren tâm trí, khó mà làm chủ được tâm mình. Có người học hành chẳng nhớ, gặp việc hay quên, niệm Phật không thành công, tham thiền quán tưởng chẳng kết quả, đều do sự tán loạn của tâm trí mà ra.

Thông thường chúng ta thấy, khi mình học một bài thuộc lòng hay làm một bài toán vào lúc hoàng hôn hay giữa cảnh náo nhiệt, thì ta thấy vất vả khó khăn vô cùng, vì suốt ngày tâm ta đã mệt mỏi tính toán lăng xăng, phân tán theo trần cảnh. Trái lại, cũng một bài học đó, hay bài toán đó, mà trong buổi khuya thanh vắng, thì ta lại học bài rất mau thuộc, làm bài rất mau xong. Vì buổi khuya mới thức dậy, tâm trí ta yên tịnh, chưa bị trần cảnh chi phối.

Ta thường thấy, một cây đèn dầu, mặc dù rất lớn ngọn, nhưng khi thắp lên bị gió từ nhiều phía đàn áp phải lung lay, leo lét khi mờ khi tỏ, có nhiều khi gần muốn tắt. Một ngọn đèn như thế chỉ làm hao dầu rất nhiều, chứ không thể soi sáng được gì hết. Nhưng khi chúng ta lấy bóng đèn chụp lại, ngọn đèn đứng thẳng và tỏa ánh sáng khắp gần xa, chiếu phá được một vùng bóng tối trong đêm trường. Cũng như ngọn đèn bị gió bạt kia, tâm hành giả bị bát phong xuy động, thất tình lục dục chi phối, lục trần bủa vây làm cho tán loạn, không soi sáng được gì cả.

Vậy, con người nếu muốn cho tâm được minh mẫn học mau nhớ, gặp việc không quên, niệm Phật được nhất tâm, tham thiền được thành tựu, Phật dạy: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu. Muốn cho tâm mình hết tán loạn, được yên định, thì phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành, ai cũng có thể làm được.

Hơi thở là chất liệu của sự sống, trong chương thứ 38 của kinh Tứ Thập Nhị Chương, có đoạn ghi lại cuộc vấn đáp của Đức Phật và các đệ tử:

Đức Phật hỏi một vị Tỳ kheo:

- Mạng sống con người tồn tại bao lâu?

- Trong vài ngày.

- Thầy chưa hiểu đạo. Đức Phật hỏi vị khác:

- Mạng sống con người tồn tại bao lâu?

- Khoảng một bữa ăn.

- Thầy cũng chưa hiểu đạo. Đức Phật hỏi thêm một vị nữa:

- Mạng sống con người tồn tại bao lâu?

- Trong một hơi thở.

- Hay lắm, thầy đã hiểu đạo.

Trong Quy Sơn cảnh sách, Tổ cũng dạy: “Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sanh, hà nãi yến nhiên không quá”, nghĩa là mạng sống của con người tồn tại trong một hơi thở; hơi thở trút ra mà không hít vào, thì đã trở thành người thiên cổ. Đời hiện tại và đời sau chỉ cách nhau trong sát na nhỏ nhất. Hiểu được như thế mới đích thực nắm vững nguyên lý vô thường của hữu thể con người. Ở đây chúng tôi không nhằm nói đến nguyên lí vô thường, mà muốn nói đến tầm quan trong trọng của hơi thở, mỗi lần hít vào thở ra là mỗi sát na ta đang sống, đang tồn tại. Theo dõi hơi thở ra vào của mình đồng nghĩa với ta đang sống trong chánh niệm. Kinh Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy:

Mỗi khi tọa thiền đếm hơi thở

Do quán hơi thở tâm chánh định

Dù đất chấn động, tâm không động

Ấy là thiền định nên tu tập.

1.3. Phương pháp quán Sổ tức:

Phương pháp quán này chúng ta có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi: khi ngồi kiết già, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi làm việc, v.v… chúng ta đều có thể tập trung tư tưởng để đếm hơi thở. Phật dạy có 4 phương pháp quán:

a. Tĩnh giác quán: Khế kinh dạy: “Tĩnh giác vị ấy thở vào và thở ra”. Nghĩa là ngồi kiết già hay bán già ngay thẳng, thân thể thư thái, tập trung tư tưởng để nhận biết hơi thở khi ra khi vào nơi mũi, mà không được điều chỉnh.

b. Tuệ tri quán: “Tuệ tri hơi thở vào, thở ra dài ngắn”. Nghĩa là biết rõ hơi thở khi ra khi vào ngắn hay dài, mạnh hay yếu,v.v…

c. Cảm giác toàn thân quán: “Cảm giác toàn thân thở ra; thở vào, vị ấy tu tập”. Nghĩa là có cảm giác toàn thân nhẹ nhàng, tâm điều hòa, hơi thở ra vào nhẹ nhàng và đều đặn.

d. An tịnh toàn thân quán: “An tịnh toàn thân thở vào, thở ra”. Nghĩa là toàn thân nhẹ nhàng, an tịnh, hơi thở ra vào nơi mũi không còn nghe thấy nữa, mà dường như toàn thân đang thở.

Theo Chỉ Quán Luận, ta phải thực hiện những điều thiết yếu sau đây trước khi quán sổ tức:

- Thức ăn phải hợp cơ thể, không hàn, không nhiệt.

- Đồ mặc phải hợp thời tiết, cân đối sự điều hòa cho cơ thể.

- Chỗ ở yên ắng, thanh tịnh, thanh vắng.

- Giờ tu: chọn giờ thanh vắng, chung quanh bớt tiếng động.

- Tắm rửa thân thể sạch sẽ để tránh bức rứt khó chịu.

- Cách ngồi: bán già hoặc kiết già.

- Lưng: thẳng như vách tường để các khớp xương dựa vào nhau.

- Hai tay: tay xuôi xuống đặt trên chân như Đức Phật ngồi thiền định.

- Cổ và đầu hơi ngã tới

- Mắt nhắm 1/3, nếu mở lớn thì loạn động, nhắm lại thì hôn trầm.

Cách đếm hơi thở:

Khi ngồi đúng cách, ta bắt đầu hít vào thở ra 10 lần để điều hòa hơi thở, thải trược khí và hít vào thanh khí, rồi bắt đầu thở đều đều không dài, không ngắn, không nhanh, không chậm. Nghĩa là thở nhẹ nhàng, nếu mau và dài thì tâm sanh loạn động; nếu thở chậm và ngắn thì tâm sanh hôn trầm. Hít thở nhẹ nhàng đều đặn thì tâm thơ thới, người khỏe.

Kế tiếp là bắt đầu đếm hơi thở, gồm có bốn cách:

a. Ðếm hơi chẵn: Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, mãi cho đến khi đi ngủ.

b. Ðếm hơi lẻ: Nghĩa là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ý.

Cách đếm hơi chẵn này rất thông dụng, vì đếm hơi thở ra dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).

c. Ðếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, nhưng tuần tự từ một đến mười.

d. Ðếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.

Bốn cách này, tùy ý người thực hành muốn dùng một cách hay cả bốn cách thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho mình và khỏi lộn, là thành công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.

Chú ý: Khi mới bắt đầu tu phép quán Sổ tức có những trường hợp xảy ra làm trở ngại cho sự tu tập:

1. Tăng. Nghĩa là thở ít mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm liền nhảy lên đếm tám v.v..

2. Giảm. Nghĩa là thở nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy rồi lại đếm sáu v.v..

3. Vô ký: Nghĩa là không nhớ rõ mình đã đếm đến số mấy rồi.

Mỗi khi lầm lộn như thế, phải bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không còn mắc phải những lầm lộn nói trên, thì tâm trí mới được yên tịnh.

Tu tập phương pháp quán Sổ tức, ta cần phải chú tâm chánh niệm thường xuyên liên tục, bám chặt trên hơi thở vào – hơi thở ra. Khi sự chánh niệm (hay biết) được duy trì liên tục như vậy là lúc thân được an tịnh, tâm bắt đầu an trú trong định. Tâm định thì sự quán chiếu được rõ ràng; vọng tưởng, trạo cử, hôn trầm đã được đoạn trừ, đưa đến chánh niệm, tỉnh giác; đồng nghĩa với trí tuệ được thông suốt. Khi đó, người tu tập sẽ có một đời sống thực sự an lạc. Khi kiểm soát được hơi thở của mình, đồng nghĩa với kiểm soát tâm để làm chủ thân khẩu chính mình và làm chủ mọi hoàn cảnh, vì: “Tâm bình thế giới bình”.

Trong Kinh Trung Bộ II, bài kinh số 8, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho ác bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức hiện hành”.

Kinh Giáo giới Rahula, Phật cũng dạy: “Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn”. Chính Đức Phật cũng thực hành pháp này: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra; này chư hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các pháp này”.

Tóm lại: Quán Sổ tức là một phương pháp đối trị tâm tán loạn rất hiệu nghiệm và thông dụng cho cả xuất gia, tại gia, Phật giáo Phát triển và Phật giáo Nguyên thủy. Không phải chỉ Phật tử mới cần thực hành, mà bất cứ ai cũng có thể hành trì pháp quán này. Nhờ đó mà đình chỉ được tâm tán loạn, thân thể được khỏe mạnh, tinh thần sẽ được yên tịnh thư thái, trí tuệ được sáng suốt, học hành mau nhớ, suy tính, phán đoán công việc làm ăn được mau lẹ và phân minh.

Nhưng nếu muốn thành công trong phương pháp tu tập, đòi hỏi ta phải nhất tâm tinh tấn, bền chí để tiến bước. Ta không thể làm người chèo thuyền ngược dòng sông để lơi tay lái cho thuyền trôi dạt.

Vậy Phật tử phải thực hành pháp môn Sổ tức này một cách tinh tấn để hàng phục vọng tâm, phá trừ phiền não, chấm dứt vô minh và trở về với bản tâm thanh tịnh của mình. Nói một cách thiết thực hơn nữa, nếu muốn tu các pháp quán trong "Ngũ Đình Tâm Quán ", mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong những phần sau, trước tiên phải tập quán cho thuần thục phép Sổ tức này. Nếu pháp quán này chưa thành công, tâm đang còn tán loạn, mà đã vội quán những pháp khác, như "Bất tịnh quán , Từ bi quán" v.v...thì chẳng khác chi xây lầu trên cát, thế nào cũng sẽ bị sụp đổ.

Thở vào, tâm tĩnh lặng.
Thở ra, miệng mỉm cười

Thở vào, an trú trong hiện tại
Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời.

Hơi thở nối liền “thân”“tâm” giúp cho chúng “quy về một mối”, thư giãn và bình an hơn! Giây phút nhiệm mầu chính là giây phút chúng ta ý thức được hơi thở của mình, quan sát nó, ý thức từng bước chân, từng ý nghĩ, từng việc mình làm là ta đang “chánh niệm” đang “thiền” trong mọi lúc, mọi nơi. Khi nấu cơm, lúc rửa chén, hay làm việc. Và thế giới xung quanh bỗng trở nên mầu nhiệm, vẻ đẹp cuộc sống từ những điều giản dị nhất.

2. QUÁN BẤT TỊNH

       2.1. Định nghĩa:

Nói cho đủ là quán thân bất tịnh. Bất tịnh: là không sạch, dơ bẩn, ô uế, nhiễm ô, không thanh tịnh, không chắc thật…

Quán bất tịnh nghĩa là quán sát thấu đáo, tỉ mỉ, cùng tột thân con người là không trong sạch, không chắc thật; tức là dơ bẩn, nhiễm ô và không tồn tại bền lâu, nhằm xả ly tham dục, ái nhiễm và đắm trước. Quán bất tịnh là một pháp quán quan trọng trong Ngũ Đình Tâm Quán.

      1. Tại sao phải quán bất tịnh?

Thông thường, con người vì yêu quý sắc thân mình mà nâng niu, cung phụng, chìu chuộng bản thân; nào là ăn ngon, mặc đẹp, ở sang…, vì thân mà đôi khi chúng ta còn dám làm những điều tội lỗi để cho nó được sung sướng, mà chưa khi nào ta thử nhìn đúng về sự bất tịnh của thân mình, đa số chúng ta chỉ thấy, biết và cố gắng che đậy sự thật đó bằng nhiều cách. Nhưng quả thật, thân này là bất tịnh, mà con người lúc nào cũng quý yêu cái thân cả. Nếu thân thích cái gì thì mình thích cái đó; còn thân ghét cái gì thì mình cũng ghét theo. Cũng bởi vì vô minh nên chúng ta làm nô lệ cho thân của chính mình và từ đó gây ra nghiệp báo để phải chịu quả đời đời không dứt. Do đó, ta phải sáng suốt để không làm nô lệ cho cái thân này nữa và không để vì thân mà tham, sân, si phát khởi; từ đó thân, khẩu, ý không có cơ hội tạo ra ác nghiệp.

      1. Quán bất tịnh như thế nào?

Phật dạy chúng ta phải quán tất cả đàn ông là cha ta, tất cả đàn bà là mẹ ta, từ đó lìa được tham ái. Chính vì tham ái mà đạn rơi như mưa, máu chảy thành sông, xương chất thành núi.

Sắc thân con người do tứ đại hợp thành, đầy ắp bất tịnh từ khi bắt đầu hình thành cho đến khi bị tiêu hủy. Để quán triệt được rốt ráo thân mạng này khi còn sống đến lúc chết lại càng ghê tởm thì pháp quán bất tịnh này chia ra làm năm phần như sau:

a. Quán chủng tử bất tịnh:

Chủng tử là hạt giống, là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh. Sự vật nào cũng có nguyên nhân của nó. Chủng tử của thân mạng gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất. Phần tinh thần này cũng gọi là phần thức, đó là nơi chứa nhóm tất cả nghiệp nhân lành, dữ của thân, khẩu, ý trong quá khứ; vì thế nên cũng gọi là Tạng thức hay Tàng thức, A-la-da thức. Kinh dạy: “Nghiệp lực dẫn thần thức đi đầu thai”, khi con người chết, tạng thức theo nghiệp lực thiện, ác của nó mà dẫn sanh vào sáu đường trầm luân khổ ải. Tạng thức thì không trong sạch vì nó là nơi kết tinh của những nghiệp nhân phiền não: tham, sân, si. Trong Quy Sơn cảnh sách, Tổ dạy: “Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành”- Bởi do nghiệp trói buộc mà có thân, tức chưa khỏi khổ lụy về thân. Bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, tạm mượn các duyên hợp thành”. Muốn thực hiện đời sống khác, Tàng thức hòa với phần chất bất tịnh là tinh cha, huyết mẹ để tạo thành thai nhi. Như thế, chủng tử hay điểm khởi đầu của một thân mạng con người, từ tinh thần cho đến vật chất, đều là ô nhiễm bất tịnh cả, không có gì đáng để tự hào và quí chuộng. Thế nên hành giả phải quán sát và dẹp tan lòng luyến ái.

b. Quán trụ xứ bất tịnh:

Trụ xứ là chỗ ở, nơi nương tựa. Quán trụ xứ bất tịnh nghĩa là quán bào thai trong bụng mẹ toàn là khối tanh hôi dơ bẩn, thiếu ánh sáng, chật hẹp, tù túng.

Như đã trình bày ở trên, chủng tử-cái thai hay con người ở trạng thái đầu tiên nó chẳng khác gì một con hộ trùng, rồi dần dần lớn bằng hạt đậu, rồi bằng miếng thịt, khi mới cấu thành là một khối hôi tanh, thì nơi ở của nó cũng không sạch. Bào thai là nơi nuôi dưỡng thai nhi, thai nhi nằm lẫn lộn và lớn dần trong cái bọc bé nhỏ đầy máu huyết ấy, thông thường là 9 tháng 10 ngày rồi theo đường dơ bẩn mà ra khỏi bụng mẹ. Không trách gì, khi mới ra chào đời, nó đã khóc thét lên. Nên Ôn Như Hầu Nguyễn gia Thiều đã nói:

“Thoạt sanh ra là đã khóc chóe

Đời có vui sao chẳng cười khì?

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,

Ai bày trò bãi bể nương dâu”.

Vậy ta hãy vận dụng ý niệm này để nhận chân một cách rõ ràng như thấy trước mắt cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở chủng tử, hầu dứt trừ lòng ham muốn đối với sắc thân ngũ uẩn này.

c. Quán ngoại tướng thân bất tịnh:

Là quán sát hình tướng không trong sạch bên ngoài của Sắc thân; đó là bốn tướng: sanh, già, bệnh, chết đều bất tịnh.

Sau khi đã thoát bào thai mà ra chào đời bằng những tiếng khóc, đứa bé bắt đầu sống một đời sống riêng biệt, có đầy đủ giác quan để tiếp xúc với ngoại cảnh, những giác quan bên ngoài và bộ phận bên trong ấy, thường bài tiết những chất dơ bẩn. Chân lông thường bài tiết mồ hôi, ngoài ra còn có 9 chỗ, còn gọi là cửu khiếu: hai mắt, hai mũi, hai tai, miệng v,v… mỗi ngày cũng tiết ra nhiều chất nhơ bẩn, khó chịu. Khi còn trẻ, còn mạnh khỏe, cường tráng là vậy; chứ khi đau ốm, già nua, đầu bạc răng long, lưng còng chân run, đi đứng yếu ớt, không đủ sức khỏe để tự làm chủ, sửa soạn, trau chuốt được nữa, thì nhơ nhớp hơn nhiều.

Tuy nhiên, vì mê chấp thân này nên ta cảm thấy đẹp, yêu mến. Vậy, chúng ta cần quán sát nhiều lần mới nhận rõ tự tướng không sạch sẽ, khi nhìn qua cái hình tướng bên ngoài của xác thân...

d. Quán nội tướng thân bất tịnh:

Tức quán sát hình tướng bên trong của thân người; đó là bốn tướng: “Địa, thủy, hỏa, phong” thường chống trái lẫn nhau và bảo bọc 32 thứ nhơ (Bất tịnh) để thấy rõ những chất liệu cấu kết hình thành thể xác này là hoàn toàn bất tịnh. Kinh Bảo Tích thì nói có 44 thứ dơ:

“Nầy các thiện nam tử! Nếu Bồ Tát phát chí nguyện thù thắng hướng đến Vô Thượng Bồ Ðề thì nên quan sát thân thể nầy bốn mươi bốn thứ: Một là thân nầy đáng chán vì tánh không hòa hiệp vậy. Hai là thân nầy hôi dơ vì máu mủ thường chảy vậy. Ba là thân nầy chẳng bền vì cứu cánh bại hoại vậy. Bốn là thân nầy yếu đuối vì chi tiết trì nhau vậy. Năm là thân nầy chẳng sạch vì chất dơ dáy đầy tràn vậy. Sáu là thân nầy như ảo thuật vì phỉnh gạt phàm phu vậy. Bảy là thân nầy như miệng nhọt vì cửu khiếu thường chảy vậy. Tám là thân nầy lửa cháy vì lửa dục thạnh vậy. Chín là thân nầy là lửa, vì lửa giận mạnh vậy. Mười là cháy khắp vì lửa si cháy khắp vậy. Mười một là thân nầy tối tăm vì tham sân si vậy. Mười hai là thân nầy sa lưới vì bị lưới ái trùm vậy.Mười ba là thân nầy là khối ung nhọt vì đầy ung nhọt vậy. Mười bốn là thân nầy chẳng an vì bốn trăm lẻ bốn bệnh vậy. Mười lăm là chỗ ở của côn trùng vậy. Mười sáu là thân nầy vô thường vì cứu cánh phải chết vậy. Mười bảy là thân nầy ngoan si vì không rõ các pháp vậy. Mười tám là như đồ sành vì sanh trụ dị diệt vậy. Mười chín là bức bách vì nhiều lo sầu vậy. Hai mươi là không được cứu hộ vì chắc hoại diệt vậy. Hai mươi mốt là hiểm ác vì siễm cuống khó biết vậy. Hai mươi hai là như hố không đáy vì tham muốn không chán vậy. Hai mươi ba là như lửa nhận củi vì tham sắc chẳng nhàm vậy. Hai mươi bốn là không nhàm đủ vì tham thọ ngũ dục vậy. Hai mươi lăm là như bị đập đánh vì bị tổn hại vậy. Hai mươi sáu là bất định vì thạnh suy tăng giảm vậy. Hai mươi bảy là thân chuyển theo tâm vì chẳng chánh tư duy vậy. Hai mươi tám là chẳng biết ơn vì chắc bỏ gò mả vậy. Hai mươi chín là bị kẻ khác ăn vì chồn sói kiến mối ăn vậy. Ba mươi là như bộ máy vì gân xương chi trì vậy. Ba mươi mốt là chẳng khả quan vì máu mủ phẩn dơ vậy. Ba mươi hai là chẳng tự do vì phải nương uống ăn vậy. Ba mươi ba là hư vọng trói cột vì trọn bại hoại vậy. Ba mươi bốn là ác hữu vì nhiều nghịch hại vậy. Ba mươi lăm là kẻ giết hại vì nó tự tàn hại vậy. Ba mươi sáu là đồ khổ họa vì nhiều khổ bức bách vậy. Ba mươi bảy là khối khổ vì năm uẩn sanh vậy. Ba mươi tám là không có chủ vì các duyên sanh vậy. Ba mươi chín là không có mạng vì rời lìa tướng nam nữ vậy. Bốn mươi là rỗng không vì phải quán uẩn giới xứ vậy. Bốn mươi mốt là hư vọng vì như chiêm bao vậy. Bốn mươi hai là chẳng thiệt vì như huyễn hóa vậy. Bốn mươi ba là huyễn hoặc vì như dương diệm vậy. Bốn mươi bốn là thân nầy khi dối vì như bóng tượng trong gương vậy”.

Nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy thể chất con người là giả dối, không thật, là do 4 đại tạo thành. Những chất cứng như tóc, răng, móng, xương, thịt…là thuộc về địa đại; những chất ướt như nước mắt, máu…là thuộc về thủy đại; hơi ấm trong người là thuộc về hỏa đại; nhịp tim đập, chân tay cử động, hơi thở ra vào là thuộc về phong đại. Các chất này nằm trong một hệ thống hoàn chỉnh, được bao bọc bởi một lớp da thì ta còn dám lại gần; nếu nó bị bóc ra từng phần thì ai cũng phải ghê tởm và nhàm chán, không có gì là đẹp mà yêu quý cả. Nhưng ít khi nào ta thừa nhận như thế, vì từ lâu, với tánh mê chấp, với tâm tham ái, đắm trước thân mình và người, ta vẫn thấy đẹp, vẫn thấy đáng yêu. Và dù biết là nó bất tịnh đi nữa, chúng ta cũng bàng hoàng, không cho là thật, người phương Tây có câu ngạn ngữ: “Ai cũng đi tìm sự thật nhưng không dám đối diện với sự thật, vì sự thật quá phũ phàng”, Vì thế, Phật tử muốn thành công trong pháp quán về thân này, phải quán tưởng nhiều lần, từ ngày này sang ngày khác, cho đến khi nào nhận thấy một cách rõ ràng thân này quả thật là bất tịnh mới thôi.

e. Quán chung cánh bất tịnh:

Chung cánh ở đây là muốn nói cái giai đoạn hư hoại của thân người sau khi trút hơi thở cuối cùng. Vậy quán chung cánh bất tịnh nghĩa là quán sát tường tận sự tan rã hoại diệt trên xác thân người sau khi lâm chung.

Thân này đến khi chết, nghiệp thức không còn duy trì để thay lớp mới, đổi lớp cũ, thì da thịt rã rời, đụng đâu rệu đấy. Nếu không đem chôn cất cho kín, thì ruồi bọ, sâu giòi rúc rỉa, mùi hôi thối xông lên không ai chịu nổi. Thân người do tứ đại giả hiệp mà thành, như thế dĩ nhiên khi chết, xác con người phải trả về cho tứ đại. Dù cho xác chết trước kia là người thân mến nhất đời, nhưng để năm bảy ngày chưa kịp tẩn liệm, chôn cất thì ta cũng không thể đến gần bên cạnh mà không bịt mũi. Từ sang đến hèn; từ giàu đến nghèo, từ người trẻ đẹp cho đến người già yếu xấu xí, ai ai đến giai đoạn chung cánh này thì cũng chỉ có một mùi giống nhau: mùi hôi; một chất như nhau: chất bẩn.

Tuy pháp quán bất tịnh này được chia thành nhiều loại nhưng đều có cùng một đặc tính, đó là trạng thái không sạch, hôi hám, đáng ghê tởm của thân thể. Không những tử thi mới gọi là bất tịnh, mà một cơ thể sống cũng mang đầy đủ tính chất bất tịnh như một xác chết, chỉ khác một điều là tính chất bất tịnh nơi cơ thể sống không được rõ rệt, vì nó may mắn được che giấu dưới những lớp trang sức khả ái mà từ đó biến thành một trạng thái được xem là tôi và của tôi. Vậy mà, khi chúng còn ở trong thân xác - thì mặc dù vẫn đáng ghê tởm - người ta lại xem là dễ chịu, đáng ham muốn, trường cửu, khả ái, tự ngã v.v... Bởi vì bị trùm kín trong màn tối vô minh, bị nhuốm đầy tham ái đối với tự ngã, mà người ta đã nhận thức sai lạc như thế. 

Qua năm giai đoạn quán bất tịnh này: chủng tử, trụ xứ, nội tướng, ngoại tướng và chung cánh, chúng ta đã có một quan niệm rõ ràng, chân xác: thân người từ lúc thọ thai cho đến chết, quả thật ta không tìm thấy một sự trong sạch hay thơm tho nào đối với sắc thân ngũ uẩn này. Cái thân xác này, nếu không được tắm rửa, chăm sóc, khoác y phục bên ngoài, thì xét về tính chất nhơ bẩn, một ông vua cũng không khác gì người dân thường. Người đời vì không xét kỹ nên mới yêu chuộng, cung phụng nó đủ điều. Cũng vì thân mà tham, sân, si nổi lên; vì thân mà sát, đạo, dâm sinh ra; vì thân mà vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu… tạo bao nhiêu nghiệp bất thiện cũng vì quá nuông chìu cái thân này.

Người tu tập, quán sát rõ cái thân này là bất tịnh, chịu sự chi phối của già, bệnh, chết. Thời gian trôi qua thì mạng sống cũng giảm dần, một thân thể mà ta yêu chuộng ngày nào giờ đây chỉ còn lại đống tro tàn nguội lạnh: xấu-đẹp, giàu-nghèo, sang-hèn,… cũng đều như nhau cả. Do vậy, một Tỳ kheo có khả năng nên nắm lấy bất cứ tướng bất tịnh nào khi thấy chúng hiển lộ, để làm một đề mục thiền quán, hầu đạt đến định tâm. Trong Thanh tịnh đạo luận toát yếu, Ngài Thích Phước Sơn có đoạn dịch như sau:

Ngũ uẩn giai không thoát mộng trần

Tùy duyên ứng hiện bá thiên thân

Mộng trung mộ mộng trùng mê mộng

Thân ngoại phi thân, khước thị thân.

Tuy nhiên, quán thân là bất tịnh không có nghĩa là ta bi quan về nó, bỏ rơi hay hủy diệt nó. Đức Phật không cho phép người Phật tử bi quan về bất cứ điều gì trong cuộc sống. Nếu chúng ta thấy được mặt trái của thân mà bi quan tức chúng ta tự hủy hoại thân mình, đó là đi ngược lại lý tưởng cao đẹp của đức Thế Tôn đã dạy.

“Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn

Nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục”.

Bởi lẽ, mục đích của quán thân bất tịnh là nhằm đưa con người vượt khỏi những vướng mắc, bi lụy, đau khổ, chấp trước vào thân này. Giúp ta thấu triệt thân này chỉ là một tiến trình luôn biến chuyển, không thật thể, là khối uế trược do thất đại duyên nhau mà có, một khi mất đi là trở về với cát bụi. Nhưng chúng ta cũng nương vào nó để tu tập mong tìm về an lạc giải thoát. Kinh Pháp cú số 53, Phật dạy:

Như từ một đống hoa

Nhiều tràng hoa được làm

Cũng vậy, thân sanh tử

Làm được nhiều thiện sự.

Quán thân bất tịnh, thấy rõ về sự thật của thân, ngay trong thân thể của mình từ chân lên đến đầu là một túi da bên ngoài đầy bất tịnh và bên trong cũng chứa đầy dẫy những vật bất tịnh. Mục đích quán như vậy để diệt trừ ngã chấp nhằm đối trị lại căn bệnh tham ái sắc thân mình và sắc thân của người. Không chấp vướng vào thân bất tịnh thì tâm không dao động, trí tuệ sáng suốt, từ đó người con Phật sống hợp với lẽ phải nên thường được thanh thản, vui vẻ. Thân sanh tử, đầy bất tịnh mà làm được nhiều việc thiện thì thân ấy như những “bông hoa” tô điểm cho đời, hình ảnh thí dụ thật đẹp, thật thánh thiện, đầy khích lệ: con người hãy nương thân ngũ uẩn để chuyển hóa tâm phàm phu thành Thánh, Phật. Qua sông thì phải cần đò, thân này là phương tiện để ta ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, tu tập… Nếu không có thân này sẽ không có phương tiện để đạt giác ngộ; cũng như không có hoa thì lấy gì để kết được tràng hoa? Đây là minh chứng cho cái nhìn hướng thượng của đạo Phật về con người.

2.4. Lợi ích của phương pháp quán bất tịnh

Nhờ quán bất tịnh mà hành giả đạt được nhiều lợi ích sau:

- Không còn chấp thủ, tham ái vào sắc thân của mình, của người, nên tâm được an định.

- Hành giả sẽ không còn bị lệ thuộc vào miếng ăn, tức là tránh việc sát sanh

- Công danh, sự nghiệp được giữ vững, không như vua Trụ, vua Kiệt thuở xưa

- Hạnh phúc gia đình được giữ vững, không còn việc ngoại tình

- Không còn những đứa con rơi bị bỏ trước cổng chùa, trong cô nhi viện, bao hài nhi vô tội bị giết vì nạo phá thai.

- Không còn nạn hảm hiếp, giết người hàng loạt, nạn mại dâm lan tràn, căn bệnh thế kỷ S hoành hành…

            3. QUÁN TỪ BI

Bắc cực là nơi lạnh nhất trên Thế giới. Ở vùng đất này ta chỉ nhìn thấy loài gấu mạnh mẽ nhưng lại thiếu đi sự ấm áp của loài người. Ấy mà, một nhà văn Nga lại có cách suy nghĩ khác "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu vắng tình thương". Quả thật, nơi lạnh nhất là Bắc cực, nhưng cái lạnh đó chỉ là lạnh về thể xác. Lạnh về thể xác ta có thể sưởi ấm bằng ánh lửa rực màu, bằng tấm chăn mềm mại, bằng ánh nắng vàng đượm của mặt trời. Thế nhưng, nếu lòng người thiếu đi tình thương, thì cái lạnh còn nguy hiểm hơn là cái giá buốt nơi tận cùng Thế giới.

Thiếu tình thương hay lòng từ bi thì tánh nóng giận hay sân hận luôn có mặt. Mà tham lam, sân hận, si mê là cội gốc gây đau khổ, bất an trong cuộc sống cho muôn ngàn chúng sanh. Làm người thì không ai tránh khỏi sân hận. Sân hận có tác hại gây sự đau buồn, đổ nát, tan thương cho mình và người. Là người học Phật, chúng ta cần tu tập để dập tắt lòng sân hận và trải rộng tình thương đến với mọi người, bằng cách vận dụng pháp Từ Bi Quán.

“Tình thương dâng khắp muôn nơi

Con tim tuy nhỏ nhưng trời đất ôm”.

3.1. Định Nghĩa:

Từ bi, tiếng Phạn là Metta-Karuna.

Từ bi: “Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ" nghĩa là Từ cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài. Theo ý nghĩa này thì Từ bi ở đây là “Từ bi vô lượng”.

Theo nghĩa chiết tự, Từ nghĩa là lòng thương yêu vô cùng rộng lớn đối với toàn thể chúng sanh, thành thật ước mong tất cả chúng sanh đều được an lành, hạnh phúc, từ đó gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. Ngược lại với tâm Từ là lòng sân hận.

Bi là lòng thương xót rộng lớn, làm cho tâm rung động trước những nỗi đau của chúng sanh, và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ đó. Nên, định nghĩa theo chữ Hán, Bi là “bạt khổ ” tức nhổ sạch, dứt sạch khổ. “Bi” không phải là lòng thương hại, vì lòng thương hại dấy khởi lên khi ta cảm thấy tội nghiệp cho ai đó. Tâm Bi là vị thuốc có thể trừ được bệnh hung bạo. Người có tâm Bi luôn ôn hòa, hiền dịu. Lắm khi họ không ngần ngại hy sinh đến tài sản, cả đến tính mạng của mình để giúp đỡ người khác. Chính do nơi tâm Bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi giúp người, giúp mà không bao giờ mong đền ơn, đáp nghĩa. Tâm Bi phát sinh khi ta cảm nhận được sự đau khổ của người khác trong chính bản thân ta. Từ đó, luôn luôn muốn cứu giúp chúng sanh ra khỏi những đau khổ của trần gian.

Diệt khổ và ban vui là hạnh nguyện lợi tha. Với kinh nghiệm của bản thân, Đức Phật dạy người tu hạnh Bồ-tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây Bồ-đề lớn mạnh là nhờ gốc rễ bám sâu vào lòng đất. Người Phật tử nên lấy từ bi làm chất liệu của cuộc sống, làm phương châm sống của mình.

Khổ và vui tức là khía cạnh của cuộc đời, là hai yếu tố liên hợp nhau. Khi được vui là đã bớt khổ, lúc ấy trong Từ có Bi; hay ngược lại, khi bớt khổ là đã được vui, như thế là trong Bi có Từ. Cũng như một đứa bé đang khổ sở vì đi lạc đường, bỗng có ai chỉ đường cho nó, nó liền vui mừng và hết khổ. Vậy từ bi là một tình thương rộng lớn, nó thúc đẩy chúng ta vận dụng tất cả khả năng, tâm tư, phương tiện để làm cho mọi người, mọi loài thoát khổ, được vui.

Từ là ban vui cho tất cả chúng sinh- tức là tất cả loài vật không chỉ riêng cho loài người. Tất cả mọi vật có sự sống đều được chung hưởng tình thương ấy. Còn Bi là nhổ trừ tận gốc mọi nỗi khổ cho chúng sinh chứ không phải chỉ xoa dịu cái quả khổ trong hiện tại. Người có lòng Bi là vừa thoa dịu vết thương đau khổ trong hiện tại và vừa chữa cho khỏi nguyên nhân hay gây ra đau khổ, như người làm vườn, không phải chỉ phác cho sạch cỏ trên mặt đất, mà còn đào sâu xuống dưới, nhổ cho hết gốc rễ của cỏ nữa.

Như thế, về phương diện không gian, Từ bi bao gồm tất cả mọi loài; còn về phương diện thời gian, nó bao gồm tất cả quá khứ, hiện tại và vị lai.

3.2. Cứu khổ và ban vui như thế nào?

Hầu hết chúng ta, ai cũng cần tình thương và ai cũng có tình thương, nhưng tình thương trong ta thiên về vị kỷ nhiều hơn là vị tha. Tình thương trong đạo Phật là tình thương hoàn toàn vị tha, là nhân đưa chúng sanh đến an vui giải thoát. Còn tình thương hoàn toàn vị kỷ gọi là ái kiến, là nhân đưa con người đến trầm luân sanh tử. Thế nên, Từ bi trong đạo Phật vừa rộng vừa sâu, làm nền tảng cho nguồn sống và hạnh phúc của chúng sanh. Phật dạy từ bỏ đời sống sát sanh, cả đến trước khi uống nước ao hồ, các vị Tỳ-kheo phải dùng cái lọc để lọc nước, như thế vừa hợp vệ sinh, vừa tránh khỏi sát sinh những sanh vật nhỏ ở trong nước. Mỗi khi vào cầu, những người tu hành phải gõ cửa ba tiếng, để cho những sinh vật dưới cầu biết mà tránh trước. Những cử chỉ ấy mặc dù nhỏ nhặt, nhưng đã thể hiện được lòng từ bi của người Phật tử chân chính. Điều này nói lên đặc tính tôn trọng sự sống mọi loài trong giáo lí đạo Phật, nhờ đó mà cuộc đời bớt khổ đau, xóa tan thù hận và xem nhau như anh em, san xẻ tình thương chân thật.

Muốn giải thoát khổ phải trừ nhân khổ. Muốn thể hiện tâm Từ bi, tức ban vui cho chúng sanh, làm cho chúng sanh có niềm an vui chân thật, thì trước tiên phải dứt cho hết các khổ do phiền não gây ra bằng cách luôn luôn răn nhắc chúng sanh đừng gây tạo tội. Muốn cứu người thoát khỏi si mê lầm lạc, ta dạy họ tiến tu để trí tuệ sáng suốt, giác ngộ cảnh đời mà xa lìa tội lỗi.

Để phát triển tâm Bi, chúng ta cần thực tập một cách chánh niệm, tập lắng nghe và tập nhìn sâu. Khi biết người đau khổ, ta xích lại gần để như thử xúc chạm được nỗi đau của người ấy, cảm thông sâu sắc và điều đó sẽ đem lại sự giải toả khổ đau. Hơn nữa, một suy nghĩ tốt thường dẫn đến hành động, lời nói tốt, có thể cứu sống người, giúp người tạo dựng lại hạnh phúc.

Chúng ta thường hỏi tại sao Đức Phật lại luôn có một nụ cười tươi đẹp, bình dị như vậy trong khi thế giới đang đầy đau khổ? Tại sao, Ngài lại không bị tác động bởi khổ đau? Lý do là vì Đức Phật có đủ bình tĩnh, sáng suốt và hiểu biết nên Ngài có thể mỉm cười với khổ đau, vì Ngài biết cách điều phục nó, chế ngự nó.

Tu tập để phát triển lòng Bi, điều cần yếu đầu tiên là chúng ta phải tự cứu mình hết khổ trước - phải ý thức được khổ đau và cũng cần bình tĩnh, sáng suốt và có một ý chí nghị lực để chuyển hoá mọi tình huống đau khổ.

Tu tập để chuyển hóa khổ đau bằng cách thực hành Bát chánh đạo và thường xuyên có cái nhìn đúng về khổ. Sự ý thức rõ về khổ đau cho ta một hướng sống tích cực, lạc quan, giúp ta tôi luyện cho mình một tâm trí vững chãi, sáng suốt; về mặt hành động, hãy tạo an lạc cho mình, cho người thông qua tấm lòng từ bi và ánh sáng trí tuệ. Thế gian đã ngập tràn đau khổ, chúng ta hãy đối xử với nhau như bát nước đầy thì hơn. Biết về khổ thôi vẫn chưa đủ vì khổ vẫn còn đó, người Phật tử còn phải thực hành phương pháp diệt khổ, nỗ lực gầy dựng thiện nghiệp bằng tuệ giác vô tham, vô sân, vô si; đồng thời, thường xuyên diệt ngã phá chấp. Làm được như thế mới gọi là người có tâm Bi.

Khi tâm Từ bi xuất hiện thì lòng sân hận, ác ý, thù oán không thể phát sinh. Đức Phật dạy, chỉ có Từ bi mới dập tắt được lòng sân, tâm Từ bi còn dập tắt được các mầm tư tưởng bất thiện. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú - 197:

Ở ngay giữa chốn nhân sinh

Dù người hờn oán, nếu mình thảnh thơi

Sống không thù hận cùng người

Thật là sung sướng, cuộc đời thơm hương.

Nhưng, có lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là phải quên mình. Ta không thể cho ai một vật mà chúng ta không có. Muốn đem tình thương cho người, muốn người khác được an vui, trước tiên chính ta phải được an vui, phải biết làm như thế nào để mình được an vui. Mình có giác ngộ giải thoát mới có thể giúp người hiệu quả hơn. Tức phải trang bị cho mình những tư lương cần thiết của một hành giả hành Bồ tát đạo; đó là đức trì giới, hạnh nhẫn nhục, tinh tấn, trí tuệ…Tiếp đến, thực tập lòng Từ bi bằng bước đi đầu tiên là rải tâm yêu thương đến thân bằng quyết thuộc, riêng từng người cho đến toàn thể và ước mong mọi người đều lánh xa phiền não, bệnh tật, lo âu, sân hận. Rồi đến những bạn bè, những người không quen biết và mong họ được an vui như trên. Sau cùng, tuy khó nhưng hành giả phải trải tâm từ đến những người coi mình là thù nghịch, lấy thái độ ôn hoà đáp trả những cử chỉ bất hoà. Ai cũng tu tập có được tình thương như vậy thì mọi hận thù trên thế gian này sẽ tiêu tan. Đức Phật dạy: “Hãy giữ tâm luôn luôn trong sạch giữa những người đầy thù hận”. Và trong kinh Pháp cú câu 223, Ngài cũng dạy:

Lấy từ bi, lấy ôn hòa

Thắng cơn nóng giận bùng ra thét gầm

Lấy hiền hòa, lấy thiện tâm

Thắng lòng hung ác bất nhân khó lường

Lấy tâm bố thí cúng dường

Thắng lòng keo kiệt, thắng lòng xan tham

Lấy chân thật để đập tan

Những trò  hư ngụy, dối gian ở đời.

Muốn thực hành tâm từ bi một cách hiệu quả và trọn vẹn, hành giả tu tập cần trang bị cho mình Pháp Tứ Nhiếp tức bốn phương pháp thu phục lòng người, gồm: Bố thí nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp và Đồng sự nhiếp.

3.3. Phương Pháp Quán Từ Bi

Trong các đoạn trên, chúng ta đã phân tách ý nghĩa và tác dụng của từ bi và đã thấy được giá trị tốt đẹp và lớn lao của từ bi. Ðến đây vấn đề đặt ra là: "Làm thế nào để huân tập được lòng từ bi".

“Từ bi quán” là phương pháp hiệu nghiệm để huân tập được lòng từ bi. Về phương pháp, theo kinh Từ Bi Tam Muội, Quán Từ bi có ba phương pháp: Quán chúng sanh duyên từ, quán pháp duyên từ và quán vô duyên từ.

1. Quán chúng sinh duyên từ

Chúng sinh: Tiếng Phạn là Tát đỏa (Sattva), dịch nghĩa “chúng sanh”, cũng dịch là: Hữu tình, Hữu thức, Hàm sanh. Chúng sanh là những loài có sanh ra. Hễ có sanh thì có tử, tử rồi lại sanh, triền miên mãi trong vòng luân hồi sanh tử nên gọi là Chúng sanh. Duyên: nhân duyên, điều kiện phụ, để cho một sự vật hay một sự kiện nảy sinh, hình thành. Còn điều kiện chính là nhân. Nhân có thể ví như hạt giống của cây. Còn duyên ví như các yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển của hạt giống đó thành cây, như nước tưới, đất, công chăm sóc, ánh nắng mặt trời v.v... Duyên (động từ) có nghĩa là vin vào, dựa vào, nương theo…

Chúng sanh duyên từ: nghĩa là lòng từ bi do quán sát cảnh khổ của chúng sinh mà phát khởi. Cũng có nghĩa là quán sát các duyên oán kết giữa ta và chúng sanh qua nhiều đời, khởi lòng từ bi để hóa giải.

Chúng sinh đang say mê, chìm đắm trong bể khổ sanh tử, còn đang trói mình trong vòng phiền não nhiễm ô, như: loài ở địa ngục bị hành phạt đủ điều, ngạ quỷ bị đói rách bức bách, súc sanh bị cảnh dao thớt hành hình, A tu la thì luôn đấu tranh, chém giết. Ðến các cõi trời tuy hưởng lạc thú nhưng khi phước báu hết, ngũ suy tướng hiện thì vẫn chịu luân hồi, đọa lạc vào ba đường khổ. Gần nhất là con người chúng ta, cũng chịu không biết bao nhiêu là cảnh khổ, từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến đoàn thể và luật vô thường: sanh, già, bịnh, chết chi phối. Còn loài người phải chịu Bát Khổ hoành hành, rồi bạo lực, khủng bố, chiến tranh, đói khát …Ngoại cảnh thì bị thiên tai tàn phá. Nhất là khi ta chưa hiểu Phật pháp thì đã tạo nhiều oán kết với chúng sanh. Các oan gia trái chủ đó luôn oán hận ta, họ khởi tâm sân hận tìm cách báo thù…Trước những cảnh khổ mênh mông này, Đức Phật dạy chúng ta phải quán sát tất cả chúng sinh trong lục đạo, mười phương xem như là bà con thân thuộc của mình. Đã là người thân của mình thì ta không thể nào khởi tâm sân hận, hãm hại người được, mà phải tìm mọi phương cách cứu độ họ bằng những việc làm cụ thể như: ăn chay, Phóng sanh, sám hối, giúp đỡ người nghèo hoạn nạn, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp… nhưng cách giúp cao nhất là đem Phật pháp đến cho mọi người cùng giác ngộ, để dứt trừ vô minh. Điển hình mở các khóa tu như: niệm Phật, thiền thất, Bát Quan Trai Giới, tụng Kinh, thuyết giảng Phật pháp… Nhằm giúp mọi  người hiểu về thiện ác, nhân quả báo ứng, sự vô thường, vô ngã, khổ, không của các pháp thế gian, để con người biết đoạn trừ tham sân si, bỏ ác, làm thiện, lìa khổ được vui.

Phương pháp này giúp ta mở rộng được tâm thương yêu của mình, không còn hạn hẹp trong tự ngã mà mở rộng, lan tỏa đến những đối tượng ngoài mình, ngoài gia đình mình, ngoài đồng loại mình và nhập vào đại ngã; tình thương ấy sẽ chuyển dần sang một bước cao hơn nữa, bằng phép quán "Pháp duyên từ".

2. Quán Pháp duyên từ

Pháp: nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải.

Pháp duyên từ là lòng từ bi do duyên "Pháp tánh" mà phát khởi. Hay nói cách khác, là quán sát các duyên qua lòng từ bi giữa ta và chúng sanh bình đẳng không sai khác.

Phương pháp này giúp hành giả quán sát thấy tất cả chúng sinh, cùng mình đều đồng một "pháp giới tánh", tức đều là do duyên hợp thành, và cũng do duyên mà tan rã, không có gì bền bỉ, chắc thật, chỉ nương nhau mà có, mà sinh tồn, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sanh. Nhân duyên biệt ly, hư vọng hữu diệt”. Thấu triệt lý này, khi thấy chúng sinh đau khổ cũng giống như mình đang chịu đau khổ; vì vậy hành giả khởi lòng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Ðến địa vị này, người tu tập không còn phân biệt, không còn quan niệm mình khác với người, không nghĩ rằng đó là bà con quyến thuộc hay kẻ xa lạ, chỉ thấy mình cùng người đồng một "pháp giới tánh" mà thôi. Bồ Tát đã nhận chúng sinh và mình đồng một bản thể, nên khi cứu khổ, không cần biết đó là ai, và khi làm, không chấp mình đã làm. Chúng sinh có khổ thì Bồ Tát có Bi. Sự thông cảm tự nhiên ấy như tình thiêng liêng giữa mẹ và con, hễ có cảm là có ứng, như tánh sốt sắng của vị y sĩ có lương tâm nhà nghề, hễ thấy bịnh thì liền trị. Với ý nghĩa này, trong kinh Trung A Hàm có thí dụ: Trước một nạn nhân bị trúng tên độc, vị y sĩ liền lấy tên độc ra lập tức. Ông không cần phải hỏi người ấy tên gì, ở đâu, con ai, cũng không cần coi cây tên ấy làm bằng gì, ai bắn v.v...

Sự cứu khổ cho chúng sinh, đối với các vị Bồ Tát đã chứng được "pháp duyên từ" này cũng như thế, chỉ nhằm mục đích làm sao cho kẻ khác hết khổ được vui mà thôi.

3. Quán Vô duyên từ

Ở hai phương pháp quán trên là lòng từ bi do duyên mình với chúng sinh khổ sở mà phát ra, hay do duyên mình và chúng sinh đồng một thể tánh mà phát khởi. Còn phương pháp quán từ bi thứ ba tức là "Vô duyên từ": quán sát lòng từ bi có từ vô thỉ vô chung và trùm khắp pháp giới, “Phổ châu sa giới”.

Vô duyên từ, là lòng từ bi không có tâm năng duyên và cảnh sở duyên, không còn dụng công, không còn quan sát, đối đãi giữa mình với người, cho đến muôn loài chúng sanh. Lòng từ bi này xứng theo thể tánh chơn tâm mà tự khởi, nó không duyên, không có đối tượng để duyên. Lòng từ bi ấy bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào, ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cả gần xa, không phân biệt thấp cao, không chú ý một nơi nào, chiếu soi tất cả một cách vô tư và không dụng công. Hành giả tu tập Từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sanh, không còn thấy sự khác biệt giữa mình và người, cái gọi là “ta” không còn nữa.

Một mình vô sự sống nhàn cư

Đối đãi chẳng còn, tánh tự như

Khế hợp duyên cơ nào chướng ngại

Có, không dứt bặt, sạch ưu tư.

3.4. Lợi ích của pháp quán Từ bi

Đức Phật từng nói với chư đệ tử của Ngài: “Ta sống trên một ngọn núi, giữa đám sài lang, hổ báo, thú dữ, để tự bảo vệ, không gì khác hơn tâm từ, tâm bi của ta. Chung quanh ta là sư tử, cọp, beo, nai, hươu, các loài thú dữ, ngoài ra là rừng rậm cỏ hoang; chính là oai lực của tâm từ, tâm bi nâng đỡ, bảo vệ ta và giúp ta sống an ổn”.

Kinh Pháp Cú, Phật dạy:

Hận thù diệt hận thù

Đời này không có được

Không hận diệt hận thù

Là định luật ngàn thu.

Trong kinh Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy, Người thực hành pháp quán từ bi sẽ được lợi ích như sau: Trong cuộc sống được yên vui, hiện tại được mọi người yêu mến và kính trọng, khi thức hay ngủ đều được an vui, sống trong đời không bị tai nạn, trộm cướp.

Từ bi là phương thuốc hiệu nghiệm để đối trị tâm sân hận. Thù hận, tham lam là cái gốc của bao tội lỗi, trừ được nó là dập tắt được biến loạn, thù địch, đấu tranh trong nhân loại; người người chan hòa tình thương yêu, giữa người và vật đều là bà con quyến thuộc, năm châu bốn biển đều là anh em và cùng chan hòa trong Phật tánh. Tâm từ như dòng nước ùa về cánh đồng khô cháy, xóa tan đi nứt nẻ đau thương và đất tâm sẽ tươi mầm hoa lá.

Kinh Tăng Chi, phẩm Nhứt Pháp, đức Phật dạy: “Nếu vị khất sĩ tu Từ quán, dù chỉ thực hành trong chốc lát; thời gian bằng một cái búng tay thôi, thì vị Khất sĩ đó đã xứng đáng là một vị Khất sĩ rồi”.

Tâm từ rãi khắp muôn phương

Tâm bi hiện hữu mười phương chan hòa

Lòng người nở một đóa hoa

Từ bi hỷ xả, chan hòa tình thương.

4. QUÁN NHÂN DUYÊN

Hiền triết Tây Phương than rằng: “Tôi sinh ra trong mê mờ, sống trong dục vọng và chết trong hoài nghi”. Đó là do người ấy chưa hiểu được bản thể duyên sanh của vạn pháp, chưa thấu đạt được trí tuệ của Phật pháp. Cho nên, muốn hiểu rõ được bản chất của vạn vật trong vũ trụ chúng ta cần phải quán lý nhân duyên.

4.1. Định nghĩa:

Nhân: là nguyên nhân, là năng lực phát sinh, chỉ cho những sự vật chính, trực tiếp sanh ra một vật khác, như hạt lúa làm nhân sanh ra cây lúa.

Duyên: là trợ duyên, hỗ trợ cho năng lực ấy phát sinh, chỉ cho những vật gì có tánh cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó. Duyên có duyên thuận và duyên nghịch. Duyên thuận làm cho Nhân được tăng trưởng. Duyên nghịch làm Nhân bị hoại diệt. 

Chữ "Nhân duyên" còn có nghĩa: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra vật này hoặc vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành căn nhà. Vì các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau mà thành vật này hoặc vật khác, nên Phật dạy: “Chư pháp trùng trùng duyên khởi”.

Các pháp do nhân duyên hòa hợp gọi là “sanh”. Vậy, nguyên nhân nào sanh ra hữu tình chúng sanh? Đó là Mười hai nhân duyên. Gồm có: Vô minh – Hành - Thức – Danh sắc – Lục nhập – Xúc – Thọ - Ái – Thủ - Hữu – Sanh – Lão, tử.

       4.2. Thành phần mười hai nhân duyên:

1. Vô minh:

Phật giáo Phát Triển giải thích: "Không tỏ ngộ chân tâm gọi là vô minh" (Bất giác đệ nhất nghĩa đế, vị chi vô minh).

Thông cả Bắc truyền và Nam truyền giải thích: "Hiểu biết các pháp không đúng như thật (hiểu sai lầm), nên gọi là vô minh" (Bất như thật tri chư đế lý, vị chi vô minh); như vô ngã mà chấp thật ngã, vô pháp mà chấp thật pháp v.v...

Ngoài ra, còn những nghĩa thông thường như: vô minh là không sáng, tối tăm, mờ ám, si mê v.v... Xưa có người đến chùa hỏi:

-Thế nào là Vô minh? (Câu chuyện trong Hư Hư lục)

Tổ sư trả lời:

-Quê mùa dốt nát đến thế cũng đến chùa hỏi đạo lý!

Ông khách nổi giận, mặt mày đỏ bừng… Tổ sư nói tiếp:

-Vô minh là đó (chỉ cái sân), đó chính là vô minh.

Vô minh có khi chỉ riêng cho Si tâm sở. Như nói "độc hành vô minh" hay "tương ưng vô minh" là đều chỉ riêng cho "si tâm sở": Khi nó khởi riêng một mình, hoặc chung với phiền não, tham, sân v.v...

Vô minh, lại có khi để chỉ các phiền não như tham, sân, si, hay còn gọi là mê lý và mê sự.

Mê lý: không thấy rõ lý nhân quả, lý Tứ đế, chân tâm thường trụ, tự tâm thanh tịnh. Cho nên Cổ Đức nói: “Từ vô thỉ, con người tự trái với chân tánh, bị sanh tử luân hồi một cách oan uổng, bị chạy theo ngũ dục lục trần tạo biết bao điều tội lỗi”.

Mê sự: là mê lầm về mặt chủ quan, tức chấp thân này là thật có một bản ngã, một linh hồn hằng hữu. Về mặt khách quan, chấp ngũ dục lục trần là thật, do đó tham đắm tạo ra sanh tử luân hồi, như kinh Pháp Cú nói: “Đây là con ta, đây là tài sản của ta, người ngu cứ nghĩ như thế, kỳ thật cái Ta này không có, huống chi con ta, tài sản ta”.

Vô minh có hai loại: Căn bản vô minh và Chi mạt vô minh. Như trong mười hai nhân duyên, "vô minh" đầu là căn bản, vì nó là gốc sanh ra các vô minh sau; còn "ái, thủ, hữu" là chi mạt vô minh, tức nhánh nhỏ của vô minh. Nói chung, tất cả phiền não thô và tế, có tính cách làm cho chơn tâm mờ tối, gương trí tuệ lu mờ, thì gọi là vô minh.

2. Hành: là hành động, tạo tác. Do vô minh phiền não nổi lên, làm cho thân, khẩu, ý, tạo tác ra các nghiệp lành hay dữ nên gọi là "hành".

“Hành” còn gọi là tư nghiệp, tức là hành động của vô minh, của ái, của tư nghiệp. Kinh Địa Tạng nói: “Tất cả chúng sanh, nhất cử nhất động đều là tạo nghiệp”.

3. Thức: là thần thức, chỉ cho phần tinh thần. Do thân, khẩu, ý, ba nghiệp tạo tác những nghiệp lành hay dữ nên khi mạng chung, các nghiệp dẫn dắt thần thức thọ thai từ nơi này đến nơi khác, vào chỗ này hoặc chỗ khác, nhận quả báo (thân) khổ hay vui ở đời sau.  

4. Danh sắc: là thân thể, trong thân thể người có hai phần:

Phần tinh thần (tâm) chỉ có tên gọi, chứ không có hình sắc nên gọi là "danh".

Phần thể chất (thân vật lý) do tứ đại hợp thành nên gọi là “sắc”.

5. Lục nhập: gọi nôm na là sáu chỗ vào. Sáu căn sáu trần hòa hợp nhau. Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) là chỗ của sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp) phản ảnh vào, nên gọi là "lục nhập". Nghĩa là khi đã có thân người thì phải có Căn, tức có năng lực hoạt động, sáu căn này là để phân biệt nội tại (trong bụng mẹ) và ngoại tại (khi đã chào đời).

       6. Xúc: là tiếp xúc. Bên trong có sáu căn, bên ngoài có sáu trần thường gặp gỡ tiếp xúc với nhau, như mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với ấm lạnh, trơn nhám, ý tiếp xúc với pháp trần.

7. Thọ: là lãnh thọ, nhận lãnh. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, rồi lãnh thọ những cảnh vui hay buồn, sướng hay khổ, lo lắng hay bình thường.

8. Ái: là ưa muốn. Khi lãnh thọ cảnh vui thì sanh lòng tham, muốn làm sao cho có được; khi gặp cảnh khổ thì sanh tâm sân hận, buồn rầu, muốn xa lìa, gặp cảnh bình thường thì si mê. Ðây là động cơ thúc đẩy ba nghiệp thân, khẩu, ý, tạo tội.

9. Thủ: là giữ lấy, tìm cầu; nói rộng ra là các hành động tạo tác. Do gặp cảnh thuận thì tham cầu, gặp cảnh nghịch lại sân, si muốn xa lìa; mục đích là muốn tìm phương này kế nọ để bảo thủ cho được bản ngã của mình. Do đó mà tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi.

10. Hữu: là có. Đời này đã có nhân lành hay dữ do mình tạo ra, thì đời sau "có" quả khổ hay vui mà mình phải lãnh thọ. Hay nói khác hơn, do chấp ngã nên tạo nghiệp rồi phải thọ thai đời này hoặc đời sau, nơi này hoặc nơi khác.

11. Sanh: nghĩa là sanh ra. Do "ái, thủ, hữu" làm nhân hiện tại tạo ra các nghiệp, cho nên đời sau phải sanh ra đời để thọ quả báo.

12. Lão, tử: Là già, chết. Do có sanh ra, tất nhiên phải chịu luật vô thường, không sao tránh khỏi sự già và chết v.v... vì chúng là một khối khổ đau. Còn gọi là “Đại họa ấm thân”.

Mười hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau, vừa làm quả cho nhân trước, vừa làm nhân cho quả sau, nối tiếp không dứt trong thời gian vô cùng, làm cho chúng sinh xoay tròn mãi trong vòng sanh tử.

Cổ đức nói:

Vô minh ái thủ danh phiền não

Hành hữu nhị chi danh nghiệp đạo

Tùng thức chí thọ sanh lão tử

Tổng hữu thất chi danh khổ đạo.

Vô minh, ái thủ gọi là phiền não. Hai chi hành, hữu gọi là nghiệp đạo. Từ thức đến thọ và lão tử. Tổng cộng bảy chi gọi là khổ đạo.

4.3. Phương pháp quán:

Khi quán sát mười hai nhân duyên, ta có thể chia ra làm 2 phần là Quán lưu chuyển và Quán hoàn diệt.

1. Quán lưu chuyển : là quán sát trạng thái sanh khởi và vận hành của 12 chi phần nhân duyên. Có 3 cách quán cơ bản:

a. Quán nhân duyên vô thỉ:

Quán sát trạng thái sanh khởi và lưu chuyển của 12 nhân duyên trong quá khứ xa xăm là vô thỉ vô chung (Không có bắt đầu cũng không có chung cuộc).

Tâm tánh của con người vốn tự thanh tịnh, vốn tự quang minh. Nhưng từ vô thỉ đã khởi niệm bất giác, vì một niệm vọng động mà bị sinh diệt lưu chuyển nên chuyển sáng thành tối, chuyển tĩnh thành động, đó là Vô minh. Từ đây các vọng động từ từ sanh khởi biến diệt là Hành, do Hành mà có tâm (Thức) đồng thời có cảnh, đủ cả thế giới và chúng sinh (Danh sắc); trong thân chúng sinh có sáu căn là chỗ của sáu trần thường phản ảnh vào (Lục nhập), rồi căn, trần thường giao tiếp nhau (Xúc), nhân sự tiếp xúc mà phát sinh ra các cảm giác đó là Thọ; do Thọ sanh ưa thích (Ái); vì ưa nên tìm cách nắm giữ (Thủ); do đó mà có (Hữu) sanh (Sanh) và già, chết (Lão, Tử).

Xem thế, bắt nguồn từ vô minh vọng động tạo tác mà có thế giới chúng sanh, rồi cứ thế tiếp tục sanh khởi đến ngày nay và mãi về sau.

b. Quán nhân duyên qua ba đời:  

Quán sát Nhân duyên luôn có mặt trong ba đời (Quá khứ, hiện tại và vị lai). Hay nói cách khác là quán sát trạng thái sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong ba đời.

Quán sát sự xoay vần của mười hai nhân duyên trong thời gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. Mười hai nhân duyên như một sợi móc xích có mười hai vòng tròn nối tiếp nhau không có mối manh, và liên quan cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nó vừa là nhân, vừa là quả nối tiếp nhau trong ba đời.

Như trong quá khứ vô minh và hành (căn bản vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại (thân đời này) là "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"; quả hiện tại (thân đời này) trở lại tạo nhân (trong hiện tại) là "ái, thủ, hữu" (chi mạt vô minh); nhân hiện tại lại sẽ thành quả vị lai (thân đời sau) là "sanh, lão, tử". Nói tóm lại, do mê hoặc (vô minh) nên tạo nghiệp (hành), vì tạo nghiệp nên chịu quả khổ, nhân chịu quả khổ, rồi lại mê hoặc tạo nghiệp v.v...nhân sanh quả, quả lại sanh nhân, nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi, liên tiếp trong ba đời; quá khứ, hiện tại và tương lai, không gián đoạn.

c. Quán Nhân duyên trong sát na:

Quán sát Nhân duyên trong một sát na, hay còn gọi trong một niệm. Hay nói cách khác, là quán sát sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong một niệm của hiện tại.

Nếu lấy một khoảng thời gian ngắn nhất trong hiện tại để quán sát, ta cũng có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên. Như khi đối cảnh, không rõ các pháp đều là lưu chuyển (vô minh) mà khởi vọng niệm (hành); rồi phân biệt (thức) các cảnh vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lãnh thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tìm cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (hữu) rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh, lão, tử).

Như khi nhìn một người mà không thấy sự thay đổi biến diệt trong người ấy là vô minh, rồi khởi ra các vọng niệm phân biệt đẹp xấu, cao, thấp v.v... đó là hành, thức, danh sắc. Các trần cảnh phản ảnh vào sáu căn là lục nhập. Căn tiếp xúc với trần là xúc. Do sự xúc chạm sanh ra cảm giác là thọ. Nhân thọ sanh ra ưa thích là ái. Vì ái nên mong muốn chiếm đoạt là thủ. Từ đó tạo nghiệp là hữu, rồi theo nghiệp thọ báo là sanh và lão tử.

2. Quán hoàn diệt: Là quán sát sự tiêu diệt của mười hai nhân duyên. Hay dùng trí tuệ quán chiếu tiêu diệt vô minh, phá vỡ Mười hai nhân duyên để trở về với bản tâm thanh tịnh sáng suốt.  Có hai cách quán:

a) Diệt vô minh gốc rễ (căn bản vô minh):

Đây là cách quán sát dành cho hàng Bồ tát, hay hành giả trải qua nhiều kiếp tu hành, đến địa vị Đẳng giác.

Theo lý Duyên khởi, do vô minh mà có hành, do hành mà có thức,v,v... cho đến lão-tử. Như thế khi vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức cũng không có... cho đến lão-tử diệt.

Nói cách khác: do "mê hoặc" mà tạo "nghiệp", do tạo nghiệp mà chịu quả "khổ". Vậy muốn hết khổ thì phải cắt đứt nghiệp, muốn hết nghiệp thì trước tiên phải dứt trừ vô minh. Phương pháp tận diệt vô minh này cũng có hai cách:

- Bậc Bồ Tát thấy rõ, do vô minh khởi vọng động mà từ đó có thế giới chúng sinh, ngã và pháp, nên các Ngài dùng trí tuệ Bát nhã phá trừ căn bản vô minh. Khi vô minh diệt, thì bản lai diện mục hiện tiền, bản tâm thanh tịnh sáng suốt hiển lộ, vượt qua sự sai sử của năm uẩn. Đó là trường hợp ngài Quán Tự Tại đi sâu vào trí tuệ Bát nhã, soi thấy năm uẩn đều Không mà vượt qua tất cả khổ ách, như Bát nhã Tâm kinh đã nói: "Ngài Quán tự tại Bồ Tát khi đi sâu vào trí Bát nhã Ba la mật đa rồi, thì thấy tất cả năm uẩn đều không, nên khỏi các điều khổ ách...". Hay như trong kinh Lăng Nghiêm có nói: "Ðối với người tỏ ngộ được chơn tâm, thì mười phương thế giới đều tiêu hết".

- Ðối với người không thể phá trừ ngay vô minh để ngộ chân tâm, thì phải trải qua vô số kiếp tu hành, đến địa vị Ðẳng giác, rồi dùng trí Kim cang phá trừ được "sanh tướng vô minh", mới chứng quả Diệu giác (Phật ).

b) Diệt vô minh ngành ngọn (chi mạt vô minh):

Vô minh là gốc, 11 chi phần còn lại thuộc “Mạt”; tức là ngọn. Ta có thể bắt đầu quán từ Ái diệt cho đến sanh, lão, tử diệt, rồi tới Vô minh, hành, thức… xúc, thọ cũng diệt.

Đối với người căn cơ thấp, không thể phá trừ vô minh gốc rễ được, thì chỉ có thể phá trừ vô minh ngành ngọn là "ái, thủ, hữu". Khi chặt ngành ngọn thì gốc rễ dần dần bị tiêu diệt, như bụi tre mà bị xắn hết cả măng, thì sẽ phải tàn rụi.

Có hai cách diệt vô minh ngành ngọn:

- Quán lý: Đây là cách dùng lý lẽ để hướng dẫn nhận thức của mình. Ở đây là xét thấy tất cả các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, chứ không có thật (không hữu). Bởi không thật nên không thể gọi là hữu. Khi đã có cái thấy duyên sinh vô ngã, tức sự vật không có tự thể, không có chi là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thì không tham đắm tìm cầu, tức không thủ. Đã không chấp thủ thì không ái. Như vậy, theo pháp quán này thì quán hữu trước rồi đến thủ và ái. Khi ba cái nhân ái, thủ, hữu bị thiêu hủy dưới trí tuệ quán chiếu thì cái quả sanh, lão-tử cũng không còn.

- Quán sự: y theo sự tướng mà quán sát rồi thực hành. Bắt đầu quán "ái" trước, rồi đến "thủ" và "hữu". Đức Phật dạy: "Hữu ái sanh ưu, hữu ái sanh úy, vô sở ái nhạo hà ưu hà úy?"- nghĩa là: Bởi có tham muốn nên sanh ra lo sợ; nếu không ham muốn thì có lo sợ gì? Chính vì khi đối cảnh, ta sanh tâm tham muốn (ái), nên tạo tác ra các nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu). Ngược lại, biết như thế nên đối duyên xúc cảnh cố giữ tâm như như bất động, không khởi tâm tham ái (không ái), thì chẳng tìm cầu chấp thủ (không thủ), vì không thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng như trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: "..Chỉ khi các ông đối cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt, thì tham, sân, si chẳng khởi; tham, sân, si không khởi thì sát, đạo, dâm, vọng không sanh...". Mê, nghiệp và khổ hết thì mười hai nhân duyên cũng không còn, từ đây chấm dứt vòng luân chuyển của mười hai nhân duyên.

Trong bốn cách quán trừ vô minh, chỉ có pháp "quán sự" này là dễ dàng và thiết thật nhất, hợp với căn cơ của mọi người.

4.4. Công năng và lợi ích của quán Nhân duyên:

Kinh Trường A-hàm dạy: “Khi vô minh và ái dục bị tận diệt thì không còn có hành động thiện và bất thiện nữa”. Quán mười hai nhân duyên sẽ trừ được tâm si mê, nó là nguyên nhân chính của khổ đau và luân hồi sanh tử.

Trong Sadi Thập giới, chư Tổ dạy: “ Cái khổ ở địa ngục, của con lừa, con lạc đà chở nặng trong sa mạc chưa phải là khổ; không tìm thấy được hướng đi mới thật sự là khổ”; không tìm được hướng đi tức thiếu ánh sáng của trí huệ. Vậy thì, trừ được tâm si mê làm cho trí huệ được phát chiếu, đây là điều quan trọng bậc nhất của người Phật tử. Cho nên “Duy Tuệ Thị Nghiệp” là điều chính yếu của người con Phật vậy.

Hơn nữa, nhờ pháp quán Mười Hai Nhân Duyên này mà người tu tập sẽ chứng đắc được quả vị Duyên giác. Duyên giác là quả vị do chúng sanh nghe đức Như Lai nói lý Thập nhị nhân duyên, nhờ đó được giác ngộ, nên gọi là Duyên-giác. Nếu gặp thời không có Phật thị hiện ra đời, chúng sanh không được nghe pháp thanh tịnh, nhưng nhờ phước đức nhân duyên đời trước, quán sát sự sinh hóa của vũ trụ, thấy các pháp sanh diệt lưu chuyển, trực nhận thế gian vô thường; hoặc có khi thấy một chiếc lá vàng rơi, một cánh hoa rụng,v.v…cũng cảm nhận được tướng vô thường của con người và vạn pháp, nhờ đó phá trừ vô minh, những vị ấy được gọi là Độc-giác, nghĩa là tự nghiên cứu một mình mà được giác ngộ.

Chỗ giải thoát của quả vị Duyên giác và A La Hán đều giống nhau, nhưng về trí huệ và thần thông thì quả Duyên giác cao hơn quả A La Hán.

Theo kinh Nhân quả, thời Phật còn tại thế, hai vị đại Ðệ tử của Ngài là Tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục Kiền Liên đã thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên: khi chưa gặp Phật, chưa xuất gia, nhưng được nghe một vị Ðệ tử của Phật là Đại đức Mã Thắng giảng giải về đạo lý Nhân duyên trong một bài kệ mà được giác ngộ:

"Chư pháp tùng duyên sanh

Diệc phục tùng duyên diệt

Ngã Phật đại Sa-môn

Thường tác như thị thuyết”.

Nghĩa là các pháp do nhân duyên sanh, cũng do nhân duyên diệt, Ðức Phật của chúng ta, thường dạy như vậy.

Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát rằng, Pháp quán Mười Hai Nhân Duyên trước tiên giải thích nguồn gốc của vòng sanh tử luân hồi là do vô minh tạo nghiệp mê lầm rồi cảm ra quả báo khổ đau, tất cả sự vật không một vật nào riêng biệt mà tồn tại được. Chúng phải nương tựa vào nhau mà hình thành và phát triển. Riêng về loài hữu tình như kiếp người, thì do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sanh tử dài vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Tùy theo tác dụng của nó mà mười hai nhân duyên ấy có thể chia làm ba nhóm là: Hoặc (mê mờ), Nghiệp (tạo tác) và Khổ (kết qủa).

Để cắt đứt con đường luân hồi, hành giả phải đoạn diệt được một trong Mười hai chi phần nhân duyên. Khi một chi phần đã diệt thì 11 chi còn lại cũng không còn. Tu quán Mười hai nhân duyên là dùng trí tuệ quán chiếu để thấy rõ sự sanh khởi, lưu chuyển và hoàn diệt của Mười hai nhân duyên.

Hai phép quán nói trên đều đem Mười hai nhân duyên ra phân tích, quán sát, khảo cứu dưới những góc độ khác nhau để thấy được một cách tường tận trạng thái sanh khởi, luân chuyển của Mười hai nhân duyên. Thực tướng của nó là duyên sinh vô ngã, là huyễn sinh huyễn diệt, thực chất là không, là vô sanh. Khi đạt đến cái thấy này thì vô minh diệt, minh sanh. Do đó vòng xích Mười hai nhân duyên bị phá vỡ và Người tu tập được giải thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Điều này cho thấy tu tập thiền quán là điều không thể thiếu được trên lộ trình giải thoát của người Phật tử.

Ngoài những phép quán nói trên có khả năng tận diệt vô minh, chúng ta cũng có thể đi đến tiêu đích giải thoát bằng con đường khác. Nhưng dù đi bằng con đường nào, cũng lấy trí tuệ làm ngọn đèn để chiếu phá bóng tối vô minh. Như chúng ta có thể gần gũi với các bậc chân nhân để được nghe diệu pháp và đi đến đoạn tận năm triền cái. Khi năm triền cái bị diệt thì vô minh cũng không tồn tại. Đó cũng là cách tu tập hợp với căn cơ của chúng ta mà kết quả đem lại là diệt tham, sân, si. Nếu đối chiếu với Mười hai nhân duyên thì đó là ái, thủ, hữu. Khi ái, thủ, hữu diệt thì vòng luân chuyển Mười hai nhân duyên bị cắt đứt và con người lúc này đã được giải thoát hoàn toàn, đồng nghĩa ta đã thấy được vị Phật nơi chính mình, vì trong các kinh Trung bộ I, Tương Ưng bộ III, Tiểu bộ I, đức Phật thường dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy pháp; ai thấy pháp là thấy Như Lai”.

5. QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT

Đa số người đời đều tin rằng, mỗi con người đều có một linh hồn bất biến làm chủ tất cả ý nghĩ, lời nói và hành động của mình. Nói theo thuật ngữ Phật giáo thì tin như thế gọi là "ngã chấp", Phật giáo gọi đó là ngã chấp, nghĩa là tin có một cái “Ta” riêng biệt tồn tại, từ đó sinh ra "ngã ái", thương yêu, chăm sóc, bất chấp phải trái, đúng sai, ngạo mạn,…cho "cái ta" của mình là cao quý, tốt đẹp nhất, đối lập với tất cả những gì không phải là ta hay trái ý với ta. Vì chấp ngã mà mỗi người có một thế giới riêng ngăn cách, giam hãm trong cái vỏ cứng là "cái ta" riêng biệt nên phải sống, chết, quay cuồng, điêu cứng, khổ đau vì “cái ta” ấy.

Nhưng thật ra, có một cái "Ta" như thế không? cái Ta ấy ở đâu trong sáu căn, sáu trần, hay sáu thức? Muốn hiểu tường tận, chúng ta phải quán Giới Phân Biệt để nhận thức.

5.1. Định nghĩa:

Giới: trong từ giới hạn, có nghĩa là cõi, chỗ, loại, là phạm vi phân chia phần này với phần khác, bộ phận này với bộ phận khác. Chẳng hạn như trong vật chất người ta phân chia ra nhiều loại: loại màu sắc, loại âm thanh, loại mùi vị v.v...Hay trong con người, có các bộ phận tiếp xúc với ngoại cảnh, như mắt, tai, mũi, lưỡi.... Trong thế giới Ta Bà gồm những vật hữu hình và vô hình này, mặc dù có thiên hình vạn trạng, nhưng theo đạo Phật, Kinh Đa Giới 115, Trung bộ III, tr.168, Phật nói có 62 loại, nhưng căn bản không ngoài 18 giới.

Phân biệt: là chia chẻ từng loại, là so sánh; nó thuộc về thức.

Quán Giới Phân Biệt tức là phân chia ra từng loại một để quán sát; nói khác hơn, là ta phân biệt ra: Tâm - Sắc - Pháp để quán sát tường tận chúng có một cái “Ngã” trường tồn duy nhất hay không? Nói cách khác là phân biệt ra: Sắc (lục căn), Pháp (lục trần), Tâm (lục thức) để quán sát tường tận về ba đối tượng này để thấy rõ rằng ngã, pháp đều không thật có.

5.2. Phân giải 18 giới: 18 giới có thể phân chia ra 3 loại lớn: sáu căn, sáu trần và sáu thức.

a. Sáu căn: thuộc Tâm. Căn tức là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nẩy nở, phát sinh. Sáu căn ở đây tức là: nhãn căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn.

-Nhãn căn: tức là hai con mắt, bộ phận để làm chỗ nương tựa cho sự nhận thấy của người được rõ ràng, khi tiếp xúc với cảnh vật chung quanh.

-Nhĩ căn: tức là hai lỗ tai, bộ phận làm chỗ phát sinh cho sự nghe biết của người được rõ ràng, khi tiếp xúc với tiếng động ở chung quanh.

-Tỹ căn: tức là lỗ mũi, bộ phận làm chỗ nương tựa cho sự ngửi biết được xác thực, khi tiếp xúc với các mùi như thơm, thúi...ở chung quanh.

-Thiệt căn: tức là cái lưỡi, bộ phận làm chỗ nương tựa của sự nếm biết của người được rõ ràng khi tiếp xúc với các chất như chua, mặn v.v...ở ngoại cảnh.

-Thân căn: tức là da bao bọc thân người, bộ phận làm cho nhận biết được cảm giác, nóng, lạnh, cứng, mềm của các vật chung quanh.

Năm căn này là năm bộ phận thuộc về thể chất nằm ở bên ngoài, để tiếp xúc với ngoại cảnh. Chúng có hình tướng do tứ đại hợp thành, có thể thấy được, chỉ được, rờ mó được. Duy thức học liệt chúng về nội căn sắc pháp. Nội căn sắc pháp này có thể phân tách ra làm hai phần: phù trần căn và tịnh sắc căn.

Phù trần căn là chỉ cho hình tướng thô phù hiện ra bên ngoài, như tròng mắt, vành tai, lưỡi đỏ v.v...Còn tịnh sắc căn là chỉ cho căn thanh tịnh ở bên trong, là phần ẩn tàng bên trong của năm căn, tức là phần ứng dụng, phần hoạt động, phần sống của năm căn. Nói một cách rõ ràng đơn giản hơn, tức là những dây thần kinh hệ của con người vậy. Phù trần thì thô thiển, tịnh sắc lại tế ẩn. Nếu hai phần này rời nhau, năm căn sẽ vô dụng.

-Ý căn: tức là bộ phận để cho sự phân biệt phát sinh. Phần này rất tinh tế thuộc về phần tinh thần. Cho nên không có hình sắc như năm căn trước.

b. Sáu trần: thuộc Sắc. Trần có nghĩa đen là bụi. Bụi thì nhơ nhớp luôn luôn dời đổi lăng xăng, tụ tán không chừng. Nghĩa bóng, trần tức là chỉ cho phần vật chất, cảnh vật chung quanh con ngươi. Sáu trần là: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần.

-Sắc trần: là màu sắc, đường nét hình dáng, những gì mà mắt có thể thấy được.

-Thanh trần: là tiếng do vật hữu hình hay vô hình phát ra, nghĩa là những tiếng mà tai nghe được.

-Hương trần: là mùi do vật hữu hình hay vô hình bốc lên, tỏa ra, vật mà mũi ngửi được.

-Vị trần: là chất trong vật hữu tình hay vô tình, vật mà lưỡi nếm được.

-Xúc trần: là những thứ mềm, cứng, trơn, nhám...của vật hữu tình hay vô tình, những vật mà thân tiếp xúc được.

-Pháp trần: là những hình ảnh, màu sắc, hương vị.. trừu tượng của năm trần lưu lại sau khi năm căn duyên, chính là cảnh bị duyên của ý căn. Màu sắc tiếng tăm, hương vị ở đây không phải là vật thật của ngoại cảnh mà chỉ là những hình bóng, âm vang...của ngoại cảnh sau khi đã lọt qua năm giác quan, và đang bị ý căn duyên.

c. Sáu thức: thuộc Pháp: thức là sự phân biệt, hiểu biết, phán đoán do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sinh. Nó thuộc về tâm pháp (vô hình). Sáu thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.

-Nhãn thức: là sự phân biệt, hiểu biết do nhãn căn tiếp xúc với sắc trần mà phát sinh.

-Nhĩ thức: là sự phân biệt hiểu biết do nhĩ căn tiếp xúc với sắc trần phát sinh.

-Tỹ thức: là sự phân biệt hiểu biết do tỹ căn tiếp xúc với hương trần mà phát sinh.

-Thiệt thức: là sự phân biệt do thiệt căn tiếp xúc với vị trần mà pháp sinh.

-Thân thức: là sự phân biệt, hiểu biết do thân căn tiếp xúc với xúc trần mà phát sinh.

-Ý thức: là sự phân biệt, hiểu biết, phê phán do ý căn tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh.

5.3. Phương pháp quán giới phân biệt:

Sau khi rõ được phạm vi và công năng của mỗi giới trong mười tám giới rồi, đến đây, chúng ta có thể bắt đầu tập phương pháp quán. Pháp quán này gồm có hai phần: Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức; và quán sát sự giả dối của căn, trần và thức.

a. Quán sát sự liên hệ của Căn - Trần - Thức:

Căn: là nội sắc, trần là ngoại sắc, hai thứ này riêng biệt nhau nhưng chúng lại liên hệ mật thiết với nhau. Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần, trần thì bị động "được duyên" với căn. Nhờ có phù trần căn và tịnh sắc căn, nên con người mới có thể nhận biết các cảnh vật chung quanh trong sự sống hằng ngày.

Nếu không có căn thì không có thức, khi đó con người sẽ không phải là con người. Họ không sáng tạo, không xây dựng, không cải cách, không tiến hóa, không phát triển, và thế giới này phải là thế giới "chết", không có ý nghĩa.

Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần sanh ra sáu thức, thì chúng ta thấy Căn nhờ Trần mà có. Trần nhờ căn mà phát hiện. Căn, Trần hòa hợp sanh ra Thức. Mà thức là sự phân biệt điên đảo. Cho nên 18 giới này đều là giả hợp, không thật có.

Thật ra sáu căn và sáu trần vốn thanh tịnh, chỉ vì do ta dính mắc, chấp thủ vào chúng nên sanh ra phân biệt điên đảo. Nếu ngay nơi sáu căn tiếp xúc sáu trần mà không khởi phân biệt chấp thủ thì ngay đây là an lạc, là giải thoát, là Niết Bàn. Cho nên Phật dạy Ngài Phú Lâu Na về pháp yếu tu hành rằng “chỉ cần sáu căn không dính mắc sáu trần, ngay đó là giải thoát”

Nếu không có trần, con người làm sao sống nổi. Vì ngoại cảnh là môi trường hoạt động của con người, nó làm cho con người có ý thức về cuộc sống của mình.

Thức lại tác động vào căn và trần làm cho cuộc sống càng thêm tiến bộ, thịnh vượng.

Ba thứ này ảnh hưởng lẫn nhau như cây diêm quẹt, chất điện và đốm lửa. Sự liên quan này cho ta thấy, sắc pháp và tâm pháp không độc lập nhau, cả về phương diện cá thể lẫn phương diện tổng thể.

Mười tám giới này gồm cả thế giới và nhân sinh, cả vật vô tình và vật hữu tình. Một khi chúng đã không độc lập, thì trong vũ trụ này, không có một vật gì, kể cả con người, cả cái ngã, do chúng cấu tạo ra lại có thể biệt lập, thuần nhất được.

Tướng của Căn là phù trần căn; tướng của Trần là màu sắc, âm thanh…; tướng của Thức là phân biệt, so sánh, chấp thủ, ái trước. Đều gọi là huyễn tướng sanh diệt.

b. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức:

1) Sáu căn là ngã chăng? Bản chất của sáu căn là một khối xương da máu thịt…, hợp lại có trật tự, có tổ chức, chứ không gì khác. Nó do tứ đại hợp thành nên không bền bỉ và thuần nhất.

Khi các căn hủy hoại thì Ngã ở đâu?

Nếu cho rằng cái ngã ở nơi mắt, thì năm căn kia không có ngã. Nếu cái ngã ở nơi tai, thì năm căn kia không có ngã. Lần lượt xét cả sáu căn, chúng ta không thể tìm thấy được cái ngã ở một phần nào trong sáu căn.

Nếu cho rằng sáu căn đều có ngã, thì thành ra con người có đến sáu cái ngã.

Còn nếu bảo rằng: Do sáu căn hòa hợp mà có Ngã, thì sai. Vì Ngã thì không thuần nhất, bất biến, mà Căn thì sanh diệt vô thường. Thế nên Duy thức học nói rằng: “Nhân vô ngã”.

2) Sáu trần là ngã chăng?

Nếu "ngã" nằm trong sắc, thì sao hoa nở rồi tàn; bãi bể hóa thành nương dâu? Vậy "ngã" nằm trong âm thanh? Vì âm thanh không tự nhiên có, mà do vật hữu tình phát ra, thì cũng do sự va chạm của những vật vô tình mà có. Như thế, âm thanh là một pháp hữu vi, có tạo tác. Mà hữu vi là vô thường, làm sao chứa ngã được? Cho đến hương, vị, xúc, pháp cũng đều là vô thường, vô ngã như sắc, thanh cả. Chúng chỉ như làn gió thoảng qua, như màn sương phảng phất, đã vô hình lại bất định, nên sự vô ngã của chúng lại càng rõ rệt hơn sắc, thanh nhiều.

3) Sáu thức là ngã căn?

Thức là sự nhận biết do căn và trần đối nhau mà có, nên Thức không thật có. Nếu chia chẽ một cách rốt ráo theo Duy thức học, thì Thức sở dĩ có được là nhờ nhiều nhân duyên.

Như thế thì cả sáu thức đều không thật, chúng cũng vô ngã như sáu căn và sáu trần. Vậy, hành tướng của mười tám giới đều do nhân duyên hòa hợp thì có, nhưng không thật thể, thật ngã.

Tánh của Căn là tịnh sắc căn; tánh của Trần là tịch tịnh; tánh của Thức là sáng suốt. Như kinh Viên Giác nói: “Tri huyễn tức ly huyễn”. Tóm lại, Căn-Trần-Thức, tánh của nó là Như thị, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh.

5.4. Công năng và lợi ích của quán giới phân biệt:

Pháp quán Giới Phân Biệt có công năng phá tan cái ngã, tận diệt ngã. Quán Giới Phân Biệt là ngọn đèn lớn, chiếu sáng để diệt trừ bóng tối si mê và ngã chấp đang ẩn núp. Ngã không còn, thì ngã ái, ngã mạn cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Nói một cách khác, phiền não, ác nghiệp, khổ đau, do ngã chấp mà sanh; ngã chấp đã bị diệt, thì phiền não khổ đau chấm dứt, đồng thời an vui, tự tại tức thời hiện ra. Ðó là cái kết quả chắc thật đầu tiên của pháp Quán Giới Phân Biệt.

Từ nền tảng an vui, tự tại đó, hành giả sẽ mạnh tiến trên đường đạo, tâm càng sáng suốt và nhận rõ chân lý, dần chứng được các quả vị Tu Dà Hoàn, Tu Dà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Không còn chấp pháp mình tu, xem đó là phương tiện dần dần tiến đến bậc Vô trí, Vô đắc, gọi là quả vị Vô thượng Bồ-đề.

Đoạn trừ chấp thủ và ái trước các pháp; thấy rõ các pháp là huyễn. Cho nên trong Kinh Tương Ưng III, đức Phật dạy: “Ai không chấp trước, không tham luyến, không suy tưởng, không ái hỷ…người ấy giải thoát khỏi ác ma”.

       C. KẾT LUẬN

       Ngũ Đình Tâm Quán là năm pháp quán tưởng để dừng vọng tâm. Vọng tâm là căn bệnh chính làm cho con người sinh ra phiền não, khổ đau. Nó thúc đẩy người ta chạy theo ngũ dục, nó che mờ lương tri, làm cho cái tâm vốn sáng suốt trở nên tối tăm, không biết đâu là thật, đâu là giả, đâu là chính, đâu là tà, đâu là hay, đâu là dở. Do đó mỗi hành giả cần phải tinh tấn n lực tu tập để thấy được thực tướng của các pháp đều là giả tạm như huyễn.Vậy Ngũ Đình Tâm Quán là kim chỉ nam cho mỗi hành giả hoàn thiện tự thân và thăng hoa trên bước đường thánh thiện. Thực hành Ngũ Đình Tâm Quán là mang lại lợi ích cho cá nhân và toàn nhân loại, kiến tạo cõi Tịnh Độ tại nhân gian này.

 

 

 

 


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 278
Tổng truy cập: 724.190
Số người đang online: 7