Top

tin tuc ngay nay

Nhân Quả

Thứ 7 | 15/06/2019
Nhân quả như bóng với hình, Ở trong vũ trụ, quân bình âm dương. Ai ơi! Chớ có xem thường, Không tin nhân quả, khó lường bi ai.

A. MỞ ĐỀ

Vũ trụ, vạn vật không phải tuần hành, biến dịch một cách tự nhiên vô lý mà tuân theo một cái luật chung. Luật đó là luật Nhân Quả. Luật này không phải do một đấng nào, xã hội nào đặt ra mà một luật thiên nhiên âm thầm, lặng lẽ nhưng đúng đắn vô cùng.

Người đời vì không quan sát một cách kĩ càng, tường tận nên không thấy được luật ấy. Do đó, họ đã hành động một cách bừa bãi, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với bản thân mình và với người xung quanh. Và cũng chính vì thế mà họ đau khổ, lặn hụp mãi trong biển mê mờ, tội lỗi.

Trái lại, Đức Phật là vị hoàn toàn giác ngộ, đã phát huy ra cái luật nhân quả đang chi phối, điều hành mọi sự vật trong vũ trụ này nên Ngài đã hành động một cách sáng suốt, lợi lạc cho chính mình và cho chúng sanh.

Vậy chúng ta là Phật tử, chúng ta cần phải hiểu biết cái luật nhân quả mà Đấng Tử phụ đã phát huy nó như thế nào, để rồi hành động đúng theo như lời Ngài đã làm, hầu đem lại hạnh phúc chân thật, lâu bền cho mình và cho người xung quanh.

B. CHÁNH ĐỀ

I. ĐỊNH NGHĨA

“Nhân” là nguyên nhân, “quả” là kết quả. Nhân là cái mầm; quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy sinh ra. Nhân là năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có thì không có quả, nếu không có quả thì không có nhân.

II. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ

1. Nhân thế nào thì quả thế ấy

Nếu ta muốn có quả cam thì ta ta phải ươm hạt giống cam, nếu ta muốn có hạt đậu ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà lại được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói một cách khác, nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.

2. Một nhân không thể sinh ra quả

Sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân chuyển. Cho nên không có một nhân nào có thể tự tác thành quả được nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. Nói rằng hạt lúa sanh ra cây lúa là nói một cách giản dị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt lúa không thể sanh gì được cả nếu để nó một mình giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng, đất, nước, nhân công.

Cho nên khi ta nghe bất cứ ai tuyên bố rằng: “Mọi vật do một nhân sinh ra, hay một nhân có thể sanh ra vạn vật”, ta có thể chắc chắn rằng người ấy nói sai sự thật.

3. Trong nhân có quả, trong quả có nhân

Chính trong hiện tại đã có hàm chứa cái quả vị lai, cũng chính trong cái quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là nhân là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra cái quả mà ta mong muốn, chờ đợi. Một sự vật ta gọi là quả khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra trạng thái mà ta mong đợi, ước muốn. Vì thế, mỗi vật đều có thể gọi là nhân hay quả được: đối với quá khứ nó là quả nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả tiếp nối nhau, đắp đổi nhau như những vòng trong sợi dây chuyền.

4. Sự phát triển nhanh và chậm từ nhân đến quả

Sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cúng diễn tiến trong một thời gian đồng nhất. Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau, liền nhau, nhân vừa phát khởi thì quả đã xuất hiện như khi vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì tiếng trống liền phát hiện ra (quả); hay khi hai luồng điện âm và dương vừa gặp nhau thì ánh sáng liền bừng lên. Có khi nhân đã gây rồi nhưng quả đợi một thời gian, quả mới hình thành, như từ khi gieo hạt giống cho đến khi gặt lúa cần phải có một thời gian ít nhất là bốn tháng.

Có khi từ nhân đến quả cách nhau hằng chục năm, như đứa trẻ mới cắp sách đi học đến ngày thành tài phải trải qua một thời gian ít nhất là mười năm.

Có khi cần đến một vài trăm năm hay nhiều hơn nữa quả mới xuất hiện. Chẳng hạn như từ ý niệm giành được độc lập của một quốc gia, đến khi thực hiện được nền độc lập ấy cần phải qua bao thế kỉ.

Vì lí do mau chậm, trong sự phát hiện cái quả, chúng ta không nên nóng nảy, hấp tấp mà cho rằng cái Luật Nhân Quả không hoàn toàn đúng khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả.

II. PHÂN TÍCH NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ

Như các đoạn trên đã nói, nhân quả chi phối tất cá vũ trụ vạn hữu, không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần thoát ra ngoài luật nhân quả được. Ở đây, để có một quan niệm rõ ràng hơn về Luật Nhân Quả, chúng ta hãy tuần tự phân tích hành tướng của nhân quả trong mọi sự vật.

1. Nhân quả có trong những vật vô tri vô giác

Nước bị lửa đốt thì nóng, bị gió thổi thì thành sóng, bị lạnh thì đông lại. Nắng lâu ngày thì đại hạn, mưa nhiều thì lụt, gió nhiều thì sanh bão.

2. Nhân quả trong các loài thực vật

Hạt cam thì sanh ra cây cam, cây cam thì sanh ra trái cam. Hạt ớt thì sanh ra cây ớt, cây ớt thì sanh ra quả ớt. Nói một cách tổng quát, giống ngọt thì sanh trái ngọt, giống chua thì sanh ra trái chua, giống nào thì sanh quả ấy.

3. Nhân quả trong các loài động vật

Loài chim sanh ra trứng nên chúng ta gọi trứng là nhân, chờ khi ấp nở thành con là quả, con chim ấy lại trở lại làm nhân, sinh ra trứng là quả.

Loài thú sanh con, con ấy là quả. Con thú lớn lên, trở lại làm nhân, sanh con là quả.

4. Nhân quả nơi con người

  • Về phương diện thể chất

Thân tứ đại là do bẩm thụ huyết của cha mẹ và do hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ tiếp nối như thế mãi, nhân sanh quả, quả sanh nhân, không bao giờ dứt.

  • Về phương diện tinh thần

Những tư tưởng và hành vi trong quá khứ tạo cho ta những tính tình tốt hay xấu, một nếp sống trong hiện tại: tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tính tình nếp sống trong hiện tại là quả. Tính tình và nếp sống này là nhân, để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.

Để nhận rõ cái phần tinh thần quan trọng này, chúng ta hãy dành riêng ra một mục để đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó dưới đây.

IV. NHÂN QUẢ VỀ PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN

1. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt

Tham: Thấy tiền của người, nổi lòng tham lam sanh ra trộm cắp hoặc giết hại người là nhân; bị chủ đánh đập hoặc đâm chém, phải tàn tật, hay bị nhà chức trách bắt giam trong khám đường, chịu những điều tra tấn, đau khổ là quả.

Sân: Người quá nóng giận, đánh đập vợ con, phá hoại nhà cửa, chém giết người không gớm tay là nhân; khi hết giận đau đớn, nhìn thấy vợ con bịnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, luật pháp trừng trị, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.

Si mê: Người say mê sắc dục, liễu ngõ hoa tường, không có biết sự hay dở, phải trái là nhân; là cho gia đình lủng củng, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám là quả.

Nghi ngờ: Suốt đời cứ nghi ngờ việc này việc khac, ai nói gì cũng không tin, ai làm gì cũng không theo, đó là nhân; kết cuộc không làm được việc gì cả, đến khi lâm chung, buông xuôi hai bàn tay trắng, đó là kết quả.

Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh bỉ mọi người, chà đạp lên nhân phẩm người xung quanh, là nhân; bị người ghét bỏ, xa lánh, sống một đời lẻ loi, cô độc là quả. Nghiện rượu chè, chung quanh tiền bạc ăn nhậu cho thỏa thuê là nhân; đến lúc say sưa chén bát ngổn ngang, ghế bàn nghiêng ngả, nhiều khi gây ra chém giết nhau, làm những điều tội lỗi, phải bị phạt vạ và tù tội là quả.

Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người muốn hốt về mình, đắm đuối quanh năm suốt tháng theo con bài lá bạc, là nhân; đến lúc của hết nhà tiêu, nợ nần vây kéo, thiếu trước hụt sau, thâm quỹ “thụt két” là quả.

2. Nhân quả của tư tưởng hành vi tốt

Những tư tưởng hành vi xấu xa tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khổ đau như thê nào thì những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những hậu quả xán lạn, vinh quang và an vui như thế ấy.

Người không có tính tham, bỏn sẻn thì tất không bị của tiền trói buộc, tâm trí được thảnh thơi. Người không nóng giận, tất được sống cảnh hiền hòa, gia đình êm ấm. Người không si mê theo sắc dục thì tất được gia đình kính nể, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện. Người không hay ngờ vực, có đức tin thì hăng hái trong công việc, được người chung quanh tin cậy, dễ thành tựu trong đời. Người không ngạo mạn thì được bạn bè quý chuộng, niềm nở tiếp đón, tận tâm giúp đỡ khi mình gặp tai biến. Người không rượu chè, cờ bạc thì không đến nỗi túng thiếu, bà con quen biết kính nể, yêu quý. Những điều này tưởng không cần nói nhiều quý đọc giả cũng biết. Hàng ngày, quanh chúng ta nhũng cảnh tượng nhân và quả ấy diễn ra không ngớt, chỉ cần giở tờ báo hàng ngày, đọc các mục tin tức là thấy ngay.

Nói một cách tổng quát, về phương diện tinh thần cũng như về thể chất, người ta gieo thứ gì thì gặp thứ ấy. Người Pháp có câu: “Mỗi người là con đẻ của công nghiệp mình”.

V. LỢI ÍCH ĐEM LẠI CHO CHÚNG TA DO SỰ HIỂU BIẾT VÀ ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ

1. Luật nhân quả tránh cho ta những mê tín dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền

Luật nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, không có gì mơ hồ, bí hiểm. Nó vén tất cá những gì đen tối, phỉnh phờ của mê tín dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ trương “Vạn vật do một vị thần sinh ra và uy quyền thưởng phạt muôn loài”. Do đó, người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang.

2. Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính con người

Khi đã biết cuộc đời của mình do nghiệp nhân của mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ snags tạo mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở ai nữa? Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hi sinh hăng hái làm điều tốt. Vì những hành động tốt đẹp ấy, họ biết sẽ là những cái nhân quý báu, đem lại những kết quả đẹp đẽ.

3. Luật nhân quả giúp chúng ta không chán nản, không trách móc

Người hay chán nản, hay trách móc là vì đã có thói quen ỷ lại ở kẻ khác, vì hướng ngoại nhưng khi đã biết mình là động lực chính của mọi sự thất bại hay thành công thì còn chán nản trách móc ai nữa? Đã biết mình là quan trọng như thế, là chỉ còn lo tự sửa thôi, thôi gieo nhân xấu, tránh tạo giống ác để khỏi mang cái ác.

VI. QUYẾT NGHỊ

1. Có người nghĩ rằng: Nhân quả là một luật tự nhiên rất đúng đắn công bằng, sao có người cả đời hiền từ mà lại gặp lắm tai nạn khổ sở; trái lại, những người hung ác sao vẫn lại được an bình?

Đáp: Những đoạn trên đã nói, thời gian tiến triển từ nhân đến quả, có khi nhanh khi chậm,  không phải khi nào cũng đồn nhau. Có cái nhân từ đời này, đến đời sau mới hình thành quả…

Vậy nếu có người trong đời hiện tại làm việc hung ác mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền từ. Còn cái nhân hung ác mới tạo trong đời này thì tương lai hay qua đời sau, họ sẽ chịu quả báo. Cũng như có người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ là nhờ năm rồi họ có làm, có tiền của để dành vậy. Còn cái nhân ăn chơi không làm năm nay thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.

Còn người đòi nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn, khổ sở là do đời trước họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời này, qua đời sau họ sẽ hưởng quả vui. Cũng nhưu có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng mà vẫn thiếu hụt là vì ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay sang năm họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó, cổ nhân nói:

                   “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo

Chỉ danh lai tạo dữ lai trì

(Việc lành hay việc giữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi)

2. Có người hỏi: Theo luật nhân quả thì ai làm nấy chịu: cha làm tội, con không thể thay thế được; con làm tội, cha không thể thay thế được. Sao thấy có những việc: cha làm con phải chịu liên can, con làm cha phải chịu ảnh hưởng?

Trả lời: Trong kinh Phật dạy: Nhân quả nghiệp báo có hai thứ: biệt nghiệp và cộng nghiệp.

  • Biệt nghiệp: Là nghiệp báo riêng của mỗi chúng sanh, như mình có học nhiều thì mình biết nhiều, mình ăn thì mình no, mình siêng năng thì mình dễ thành công, mình nhác lười thì mình thất bại.
  • Cộng nghiệp: Là nghiệp chung cho nhiều chúng sinh cùng sống trong cùng một hoàn cảnh. Như người Việt Nam, sống trên mảnh đất chữ S này, trong giai đoạn chiến tranh Việt Pháp vừa qua thì dù giàu, dù nghèo, dù trí thức, dù bình dân đều chịu ảnh hưởng chung của chiến tranh; như sinh ở một nước tiên tiến thì mọi người đếu tương đối được hưởng một đời sống vật chất đầy đủ hơn ở một nước bán khai. Đã sinh chung trong một gia đình, một xứ sở hay một dân tộc, cố nhiên cái nghiệp quả phải có liên quan với nhau. Sách có câu:

Nhất nhân tác phước, thiên nhân hưởng

Độc thọ khai hoa, vạn thọ hương.”

(Một người làm phước, ngàn người đều được ảnh hưởng; một cây trổ hoa, muôn cây xung quanh đều được thơm lây.)

C. KẾT LUẬN

Chúng ta đã biết giá trị của luật nhân quả, vậy chúng ta nên đem bài học này áp dụng lên mọi công việc hàng ngày của chúng ta. Khi chúng ta làm một việc gì, nói một lời gì cũng nghĩ trước kết quả tốt hay xấu của nó chứ đừng làm liều, nói liều rồi phải chịu hậu quả đau khổ, nhục nhã trong tương lai. Quá khứ đã qua rồi, không thể thay đổi được, tương lai thì chưa đến, không nên quá lo lắng, con người hãy sống trong hiện tại tỉnh giác, nhận chân thiện ác, giữ gìn chánh niệm, hành động lành, lời nói lành, ý nghĩ lành, đó chính là nghiệp nhân lành, nhất định nghiệp quả lành chắc chắn sẽ đến với con ngườingay trong đời này và luôn cả đời sau.

Trong kinh sách, đức Phật dạy: "Mỗi người tùy theo nghiệp của mình tạo ra, mà có được thân phận hạnh phúc hay bất hạnh". Nếu chúng ta đã làm được như thế thì chúng ta sẽ thấy tính tình và hành vi của chúng ta mỗi ngày mỗi cải tiến, các việc sai quấy sẽ giảm bớt, các việc lành càng thêm tăng trưởng và do sự gieo nhân toàn thiện đó, từ địa vị người, chúng ta có thể tiến dần lên đến quả vị Thánh hiền, siêu nhân./.


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 422
Tổng truy cập: 705.995
Số người đang online: 15