Top

tin tuc ngay nay

Tam Vô Lậu Học

Thứ 7 | 15/06/2019
“Kính lạy Giới hay sanh Định Huệ Lớn căn lành giới thể Như Như Bao nhiêu ác nghiệp tiêu trừ Tam thừa chứng quả Vô Dư Niết Bàn”

A - MỞ ĐỀ

Khế Kinh nói: “Nhơn thọ Phật giới, tức nhập Phật vị”, pháp ngữ ấy vô cùng quan trọng, đủ chứng minh cho chúng ta biết rằng: giới Pháp của Phật dạy rất bình đẳng, có công đức siêu việt và pháp ngữ ấy được Đức Phật công bố ngay từ buổi ban đầu trong Pháp hội Hoa Nghiêm, là pháp hội trước tiên và pháp hội kế tiếp là Pháp hội Lộc Uyển.

Do đó, là đệ tử Phật không luận là xuất gia hay tại gia,cũng như bất cứ hoàn cảnh nào, nếu ai thành tâm, tịnh ý, nguyện lãnh thọ giới Pháp, tức nhiên con đường giải thoát không thể không đạt đến. Ngoại trừ những hành giả không tinh tấn tu học và tín tâm không vững chắc,thì dễ rơi vào những cảnh tượng thương đau trong tam giới. Bởi vậy, các Bộ Phái có nhiều pháp môn tu học và phát triển, nhưng không Bộ phái nào thiếu phần Giới học, Định học, Huệ học. Hơn nữa, Giơi học được xếp lên hàng đầu và rất mực tôn trọng.

Luật Tỳ Ni nói: “Nhơn Giới sanh Định, Nhơn Định sanh Huệ, thứ cơ thành tựu Thánh đạo, bất phụ xuất gia chi chí hỷ ” Vậy chúng ta hãy tìm hiểu về Tam Vô Lậu Học.

B - CHÁNH ĐỀ

I – ĐỊNH NGHĨA ĐỨC DỤNG TAM VÔ LẬU HỌC

Tam Vô Lậu học là gì? Tam Vô Lậu học là ba môn học không lọt rớt, không phiỀn não. Tam vô lậu học là ba môn gồm có Giới học,  Định học và Tuệ học

Chữ Hữu lậu có nghĩa là lọt rớt – Hữu lậu cũng có tên khác là phiền não, còn rơi rớt lại trong sanh tử luân hồi. Vô lậu có nghĩa là không hư hỏng, không rơi rớt, không nhiễm ô. Nói đúng hơn là pháp học để diệt trừ phiền não, khiến cho tam nghiệp của hành giả được thanh tịnh, được giải thoát an ổn.

Trong Kinh Di Giáo trước khi Đức Phật nhập Niết Bàn với những lời huấn thị tha thiết Ngài dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, sau khi Như Lai diệt độ các Thầy phải tôn trọng trân kính Ba La Đề Mộc Xoa, trì Giới này như người đi trong đêm tối lại gặp được ánh sáng, cũng như người nghèo lại gặp được của báu. Các Thầy phải biết Pháp ấy là Bậc Đạo Sư duy nhất của các Thầy, vì Như Lai có thường trú lâu đời hơn nữa, thì cũng luôn luôn giáo huấn các Thầy bằng những Pháp Vô Lậu giải thoát ấy, chớ không có pháp nào khác hơn. Cho nên các Thầy phải nhất tâm giữ gìn Tịnh giới”.

II - GIẢI THÍCH VỀ NGHĨA TAM VÔ LẬU HỌC

1- Giới vô lậu

Giới chính là pháp chánh thuận giải thoát, cho nên có tên là Ba La Đề Mộc Xoa, có nghĩa là Biệt Giải thoát, Bảo Giải thoát.

Chữ Biệt Giải thoát có nghĩa là ai giữ giới nào thì giải thoát được giới đó. Còn Bảo Giải thoát nghĩa là bảo đảm người nào giữ được Giới luật hoàn toàn thanh tịnh thì nhất định sẽ giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, cũng gọi là Thanh Lương xứ hay An Lạc xứ.

Bởi vậy, người học Phật do giới thanh tịnh, nên phát khởi Thiền định và Trí huệ chơn chánh. Lại có khả năng diệt trừ tất cả phiền não tội khổ. Thế nên, các Thầy phải tinh tấn giữ gìn giới Pháp chớ để thiếu sót, hủy phạm. Vì có giữ Giới mới được Định tâm sáng suốt và thực sự được tự do hạnh phúc chơn thật.Người không giữ giới thanh tịnh thì các công đức Vô lậu không thể phát sanh. Do đây mà biết: “Tịnh giới là nơi yên ổn nhất, là nơi an trú an ổn cho mọi người và tất cả công đức vô lậu cũng từ đó mà hiển lộ. Giới Luật Phật là căn cứ trên trí huệ sáng suốt, thấy xa ba đời những vô biên hữu tình xung quanh ba cõi, với lòng Từ bi vô bờ bến để không thương tổn kẻ khác hoặc tự hại mình, bằng cách này hay cách khác, đó là sự thật theo tiêu chuẩn lẽ phải, bình đẳng và chơn lý. Cho nên nơi nào có Giới thì nơi đó có sự thật, lẽ phải, công bằng và chơn lý mới trường tồn. Vì vậy, nên Kinh- Luật-Luận đều nói: Giới Luật là thọ mạng của Chánh Pháp”. Vì Giới là mạng mạch của Phật Pháp nên Giới Luật còn là Phật Pháp, còn Giới được ví như:

    • Giới là ngọn đèn sáng soi các chỗ tối tăm
    • Giới là con đường tắt đi về cõi Nhơn Thiên
    • Giới là cửa ngõ đi vào cảnh giới Niết Bàn
    • Giới là thuyền bè đưa người qua sông mê bể khổ
    • Giới là đất bằng, đất tốt muôn vật từ đó phát sanh
    • Giới là chuỗi Anh Lạc để trang nghiêm pháp thân
    • Giới là thành trì để ngăn ngừa giặc vô minh phiền não
    • Giới là tướng giỏi để ngăn ngừa giặc tham sân si nổi dậy.

Bởi Giới luật quan trọng như thế nên được đứng đầu ở môn Vô Lậu học mà cũng là cửa ngõ để vào Niết Bàn. Có thể nói Giới Luật là cơ bản xây dựng nền tự do hạnh phúc thiết thực nhất cho nhân loại, thật vô cùng hữu hiệu. Vì vậy, nếu ai nghiêm trì Giới luật sẽ mau ra khỏi sanh tử, sớm lên bờ giác. Thế nên, tuy trình độ và căn cơ khác nhau nên Phật chỉ nói Giới Luật có 3 hạng thứ lớp như sau:

    • Hạng tại gia: gồm có Tam quy ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập thiện giới.
    • Hạng Xuất gia: gồm có 10 giới Sa di và Sa di ni. Thức xoa ma na ni giới (4 giới căn bản, 6 pháp phải học và các giới hạnh đại ni). Tỳ Kheo Bắc tông 250 giới, Tỳ kheo Nam tông 227 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới.
    • Hạng đạo tục thông hành: Xuất gia Bồ Tát và tại gia Bồ Tát đều cùng giữ Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh, nhưng Bồ Tát tại gia chỉ cần giữ 6 giới trọng và 28 giới khinh là đủ.

Thế nào là Tam Tụ Tịnh Giới:

a - Nhiếp luật nghi giới

Nỗ lực đoạn trừ tất cả các điều ác về thân, khẩu và ý. Như Kinh Tăng Nhất nói: “Hãy giữ gìn cửa miệng, tự tịnh ý chí của mình, thân không làm các điều ác, nếu làm được như vậy là chánh đạo của Thế Tôn”. Do thành tựu Nhiếp Luật Nghi Giới, nên chứng được quả Đoạn Đức Đại Niết Bàn, chí đạo thành tưụ thanh tịnh pháp thân (chư ác mạc tác).

b - Nhiếp thiện pháp giới

Tu tập tất cả những điều thiện. Như Lục độ vạn hạnh, Tứ Nhiếp Pháp, Tứ bình đẳng tâm, Ngũ minh…

Như nói:           “Nguyện đem thân xác mọn này

Tô bồi đạo pháp dựng xay đạo tràng

Cúng dường Tam Bảo nghiêm trang

Làm cho đời Đạo ngày càng đẹp tươi

Do tu Nhiếp thiện pháp giới nên được quả Trí đức, đại Bồ Đề, chứng Viên mãn báo thân(chúng thiện phụng hành).

Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy:

Xưa vì chúng sanh khởi đại bi

Tu hành bố thí Ba la mật

Nên được tướng tốt,thân đẹp đẽ

Chúng sanh trông thấy đều vui mừng”.

c - Nhiêu ích hữu tình giới

Tức là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh như Kinh Phổ Hiền nói: “Đối với người bịnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm. Người lạnh thì cho y phục, người mù mắt thì dẫn đường… tạo phương tiện đi lại như bắc cầu…”. Tại sao ? Vì phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật. Do thành tựu nhiêu ích hữu tình giới, nên được ân đức Đại từ đại bi,chứng Ứng hóa thân (lợi lạc quần sanh).

Tóm lại, như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp tâm gọi là Giới. Vì từ xưa đến nay, 6 căn, chạy theo 6 trần, tạo không biết bao nhiêu tội chướng, ngày nay nhờ Giới nhiếp phục thân tâm, nên không tạo nghiệp, phiền não không sinh, tâm được Định, chứng được Tịch diệt Niết Bàn (ba môn tiệm thứ)”.

Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay sở dĩ bị sanh tử luan hồi là vì phiền não luôn dấy động, vọng tâm cứ chạy theo vọng trần, tạo không biết bao nhiêu nghiệp chướng. Thế nên, Tổ Qui Sơn nói: “Suốt kiếp trọn đời cứ chạy theo vọng trần,chưa từng có phản tỉnh…” là thế. Tuy nhiên, ngày nay nhờ có Giới nên chế ngự được vọng tâm, nhiếp hộ các căn không cho chạy theo vọng trần. Do do, tâm được yên tức được Định. Do tâm Định nên phát Huệ. Vì Trí huệ sinh nên đoạn trừ được vô minh, phiền não thoát khỏi sinh tử luân hồi chứng quả Bồ Đề, Niết Bàn và đồng thời Kinh Niết Bàn cũng khẳng định: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do giữ giới mới được thành Phật”. Hay nói cụ thể hơn Bậc Cổ Đức dạy:

Buộc tâm lấy Giới làm dây

Lấy tâm lấy Định dựng xây đạo tràng

Rõ tâm đuốc Tuệ soi đàng

Tâm không cảnh tịch Niết Bàn an vui

Hay nói :

Kính lạy Giới hay sanh Định Huệ

Lớn căn lành giới thể Như Như

Bao nhiêu ác nghiệp tiêu trừ

Tam thừa chứng quả Vô Dư Niết Bàn

2 - Định vô lậu

Chữ Định theo tiếng Phạn là Tam Muội (Samadhi), có nghĩa là tập trung ý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý tán loạn.

Đức Phật dạy: “Người ôm lòng ái dục, không thấy được Đạo.Thí như nước đục được lóng trong, lại lấy tay quậy tiếp,mọi người cùng đến xem không thấy được bóng mình…

Một khi Tâm chúng ta định tĩnh và tập trung vào một đối tượng duy nhất, Tâm nhứt cảnh tánh, không còn phân biệt tán loạn, đoạn trừ được 5 triền cái, chứng các Thiền chi, dẫn tới Định va Huệ phát sanh,đạt được an lạc lớn. Như Đức Phật dạy: “Chớ sống đời phóng dật, chớ say mê lục dục, ái nhiễm lục trần”.

Thế nên, hành giả tu tập Tam muội nếu vì tự độ, lợi dưỡng mà chẳng vì chúng sanh, chẳng vì hộ pháp, vì thấy những lỗi tham dục, ăn uống, vì thấy những căn nam nữ, chín chỗ bất tịnh, vì tranh đấu cãi cọ, đánh đập giết hại lẫn nhau… nếu vì sân hận. Tâm được định tĩnh nhất tâm, doan trừ thùy miên, nghi ngờ, nên thành tưụ giác quán (Tầm, tứ). Nhờ trừ phiền não, điều phục các căn, chế ngự ác pháp, bất thiện pháp, ba nghiệp thanh tịnh, xa lìa ngũ dục, lục trần, tam độc được thanh tịnh (Kinh Niết Bàn).

Do đó, ta thấy mục tiêu của Định là chặn đứng vọng tâm, không cho chạy theo ngũ dục, lục trần nhằm trong sạch hóa tự tâm, đoạn trừ phiền não,đạt được khinh an, hỷ lạc nhất tâm, Trí tuệ vô lậu phát sinh, làm cơ sở giải thoát, giác ngô cứu cánh.

Như Cổ Đức dạy:

Trăng trong in khắp muôn dòng nước

Thông cõi tha hồ bốn gió rung

Xưa mê nay tỉnh là như thế

Đạo cả sâu xa lòng hiểu lòng”.

3 - Huệ vô lậu

Huệ học là môn học trí tuệ, Huệ học có công năng nhận xét chơn lý, thấu triệt vạn pháp không còn lầm lạc mê mờ. Cho nên, người học Phật cần có trí tuệ sáng suốt để soi phá vô minh phiền não, nhận thức điều chơn, giả, hư ngụy, chánh tà. Nếu người tu không có trí tuệ thì sao tránh khỏi lầm lạc, nhận giả làm chơn, nhận hư làm thật.

Trí Huệ là gì? Trí phiên âm chữ Phạn là Phã na, Huệ phiên âm chữ Phạn là Bát Nhã. Trí có nghĩa là quyết đoán, Huệ có nghĩa là giãn trạch. Tự điển Phật học Trung Hoa định nghĩa như sau: “Trí là biết Tục đế và Huệ là thông hiểu Chân đế”.

Cũng có thể nói: “Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch, Huệ là cái diệu dụng xét soi tự tại.Trí tuệ vô lậu là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật môt cách thấu đáo tinh tường đến nơi đến chốn,không thể sai lầm được.”

Trong Luật Phật dạy: “Con lạc đà, con bò trâu chở nặng, loài ngạ quỷ chiụ đói khát chưa phải là khổ. Người không có trí tuệ, không biết phương hướng tu hành thì mới thật là khổ.” Thế nên muốn có trí huệ đức Phật cần tu tập Văn tuệ – Tư tuệ và Tu tuệ.

- Văn tuệ: là do nhờ sự học hỏi, nghe giảng kinh, mắt thấy văn tự, hay qua các kinh điển mà hiểu được nghĩa lý. Lâu ngày phát sinh trí huệ nên gọi là Văn huệ.

- Tư tuệ: Huệ là do trí suy nghĩ, tìm tòi, rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.

- Tu tuệ: là do sự giữ giới trì trai, lập nhiều công quả hoặc tụng kinh, trì chú niệm Phật, thể nghiệm va thể nhập chân lý mà giác ngộ, chứng được sự thật.

Văn -Tư -Tu tương quan mật thiết với nhau, hành giả cần phải chuyên tu cả ba thứ, không thể bỏ qua một thứ nào cả mới có thể thành tựu được.

Trong Kinh Phật dạy: “Văn huệ - Tư huệ - Tu huệ ba môn không thể khuyết được. Nếu nghe mà không suy nghĩ, thì như người làm ruộng mà không gieo mạ, nếu suy nghĩ mà không tu, thì như làm ruộng mà không tưới nước, bừa bỏ, rốt cuộc không có kết quả. Ba Huệ được đầy đủ thì chứng được Tam thừa. Chúng ta thấy trí huệ là con đường chắc chắn để vượt qua bể sanh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh, là búa sắt chặt cây phiền não. Do đó bậc Trí huệ luôn mang bên mình thanh gươm sắc bén để chặt đứt dòng sanh tử, xé tan lưới vô minh. Vì người có trí huệ là người hằng sống đúng chánh pháp, chánh niệm luôn tỉnh giác nơi nội tâm, thường hằng quán chiếu pháp do nhân duyên sanh, “Chư pháp tùng duyên sanh, diệc tùng nhân duyên diệt”. Người chế ngự chơn lý này là gì? Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện, quả nhiên nước trong thì trăng cảnh hiện, tâm Định thì Trí huệ hiện bày.

Chánh niệm là đài gương sáng hiện tại, chính trí huệ hiện thân tất cả chư Phật đều an trụ trong Định,nhân Định phát Huệ. Nhưng trước khi đạt được trí huệ Ngài phải tận dụng hết tâm trí tuệ tỉnh giác mà Ngài đã vượt qua tất cả. Và chỉ có Trí huệ là hành trang duy nhất cho người tu Phật, không có sức mạnh nào lay chuyển được.

Kinh Bổn Sự nói: “…Người xuất gia có hai chính sự cần phải thực hành đó là Tĩnh lự và Thính Thuyết”. Hai việc này song hành thanh tịnh thì sớm được Niết Bàn an vui. Tại sao vậy ? Vì Tĩnh lự làm nhân cho Trí huệ. Nếu có Tĩnh lự tức nhiên phát khởi trí huệ chơn chánh.

C- KẾT LUẬN

Do giữ Giới mà sanh Định, do Định mà phát sanh Trí huệ mới minh tâm kiến tánh thành Phật. Thế nên người tu học Phật pháp, trước hết phải học Tam Vô Lậu học thông suốt, giữ gìn Giới Luật cho nghiêm trang, trí huệ được sáng suốt thì trên con đường tu học Phật giáo, mới có thể tiến đến quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

Cho nên Tam Vô Lậu học là một pháp môn để mở đầu cho con đường học Phật, Giới - Định - Huệ là pháp môn nhằm để cải tạo, xây dựng và huấn luyện tự thân, tự tâm tất cả những người đệ tử Phật và cùng tất cả chúng sanh, nhằm đạt được sự thanh tịnh an lạc, giải thoát tự thân, tự tâm và giải thoát cứu cánh trong cuộc sống tại thế gian này và đồng thời xây dựng một nhân sinh quan, một thế giới an lạc hạnh phúc thật sự. Như vậy, chúng ta thấy rằng: Tam Vô lậu học, luôn luôn vận hành tu tập đồng thời, đồng bộ thì hành giả mới sớm thành tưụ quả Vô lậu giải thoát. Bằng ngược lại hay thiếu đi một pháp nào thì không thành nghĩa Tam Vô Lậu học và không thanh tịnh giải thoát.


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 263
Pháp Âm: 7.368
Đang truy cập
Hôm qua: 308
Tổng truy cập: 605.747
Số người đang online: 5