Top

tin tuc ngay nay

Thất Bồ Đề Phần

Thứ 6 | 14/06/2019
Đầu cành dương liễu vương cam lộ Một giọt mười phương rưới cũng đầy Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây.

A - MỞ ĐỀ

Thất Bồ Đề Phần cũng là một pháp môn quan trọng không kém gì ngũ căn, ngũ lực…hay những pháp trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Sở dĩ Đức Phật chế ra nhiều pháp môn như thế là để tùy căn cơ từng người, ai hợp pháp môn nào thì tu pháp môn ấy. Những pháp môn này về tên gọi chi tiết thì có khác nhau, nhưng về đại thể, thì có nhiều chỗ giống nhau, vì thế, chúng ta sẽ thấy trong pháp môn “ Thất Bồ Đề Phần” có nhiều điểm giống như trong “Tứ Như Ý Túc” hay “Ngũ căn, Ngũ lực”.

B - CHÁNH ĐỀ

        I/ ĐỊNH NGHĨA THẤT BỒ ĐỀ PHẦN

Bồ Đề do phiên âm chữ Phạn Boddhi mà ra. Người Trung Hoa dịch là giác đạo, hay đạo quả giác ngộ. Phần là từng phần, từng loại. Thất Bồ Đề Phần là bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề hay bảy pháp giúp người tu hành thành tựu thành quả Đại Giác.

Nó cũng có tên là Thất Giác Chi “Giác” tức Bồ Đề, còn “Chi” tức cũng như phần vậy. Thất Giác Chi tức là bảy nhánh, bảy phương tiện đi đến đích giác ngộ.

        II - NỘI DUNG CỦA THẤT BỒ ĐỀ PHẦN

           1 - Trạch pháp

Trạch là lựa chọn, pháp là pháp môn, phương pháp tu hành. Trạch pháp là dùng trí tuệ để lựa chọn pháp lành để tu, pháp dữ để tránh, trong sự tu tập nếu ta không có trí phân biệt chánh tà, tất phải lầm lạc. Thế nên, lòng tin của người Phật Tử phải dựa trên lý trí, nếu không là mê tín. Đức Phật có dạy:”Hãy dùng trí tuệ suy nghiệm, giản trạch các pháp, rồi sẽ tín thọ, thật hành theo”. Vì vậy, Phật Tử chúng ta muốn thẳng tiến trên con đường giác ngộ, giải thoát chúng ta không nên tin một cách bừa bãi. Mà cần phải sáng suốt, phải luôn luôn tỉnh táo phân biệt chánh tà, chân ngụy; phải thường dùng trí tuệ mà giản trạch cả những pháp ở ngoài và những ý tưởng chơn vọng của tâm để tu, để đoạn.

           2 - Tinh Tấn

Nhưng một khi đã lựa chọn được pháp môn chân chính để tu, thì phải luôn Tinh Tấn nghĩa là luôn luôn dũng mãnh trên bước đường tu tập, không quản ngại gian lao khó nhọc, không khiếp sợ, không thối chuyển, không tự mãn, tự cao mà bỏ dở mục đích chưa đạt được.

Nên nói:        “Trên đường đạo không gì bằng Tinh Tấn,

Không gì bằng trí tuệ của đời ta

Sống điêu linh trong kiếp sống Ta bà

Chỉ tinh tấn là vượt qua tất cả.”

Theo Luận Nhiếp Đại Thừa tinh tấn có ba thứ:

- Bi giáp tinh tấn: Nghĩa là mang áo giáp tinh tấn. Người Phật Tử trong cuộc chiến đấu để diệt trừ đau khổ, tiến tới giải thoát, cần phải mang áo giáp tinh tấn, để khi xông pha vào trận địa “phiền não” khỏi bị ma quân hãm hại. Nhờ có áo giáp ấy, người Phật Tử tin tưởng ở năng lực của mình, hùng dũng tiến tới, không sợ gian nguy, không lùi bước trước một trở ngại hay một địch thủ nào.

- Gia hạnh tinh tấn: Nghĩa là luôn luôn gắng sức không bao giờ dừng nghỉ trên bước đường đi đến giải thoát. Với pháp tinh tấn này, người Phật Tử càng tiến càng hăng, càng thêm sức lực, càng phấn chí không bao giờ biết mệt mỏi.

- Vô hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc là không vui sướng tự mãn cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng lợi trên đường tu hành. Người Phật Từ chưa chứng được Phật quả, thì còn gia công gắng sức tu luyện mãi, chứ không chịu dừng nghỉ, vui thú với một quả vị thấp thỏi, tạm bợ, như người bộ hành khi chưa đến đích cuối cùng, thì còn hăng hái bước mãi, chứ không chịu chấm dứt cuộc hành trình của mình bằng cách an phận ở mãi trong một quán trọ bên đường.

          3 - Hỷ

Nghĩa là hoan hỷ. Nhờ tinh tấn tu hành nên đoạn trừ được phiền não thành tựu vô lượng công đức. Do đó sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành.

          4 - Khinh an

Khinh là nhẹ nhàng. An là an ổn. Nhờ sự tinh tấn tu tập nên thanh tâm được thanh tịnh ;do đó người tu hành cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, khinh an như đã trút được gánh nặng dục vọng mê mờ.

           5 - Niệm

Niệm nghĩa là thường ghi nhớ chánh pháp để thực hành. Tâm niệm ta nếu không thường nhớ chánh pháp, tất nhiên tạp niệm phát sanh, phiền não tăng trưởng. Vì thế chúng ta cần phải để tâm ghi nhớ chánh pháp.

Cho nên Kinh Pháp Cú nói về niệm, Phật dạy có 10 thứ:

a - Niệm Phật: Tức là luôn luôn nhớ nghĩ đến công đức Phật, pháp thân Phật, trí tuệ và tâm Từ bi của Đức Phật, công hạnh giáo hóa của Đức Phật đối với chúng sanh ở cõi Ta Bà này qua bài hệ tán thán Phật Bảo như sau:

Kính lạy Phật từ bi quảng đại

Vì chúng sanh nhơn loại đảo điên.

Luân hồi sanh tử triền miên

Làm Thầy hướng dẫn nhơn thiên thoát nạn.”

b - Niệm pháp: Tức là luôn nhớ đến lời dạy của Phật trong 49 năm, đó là những khuôn vàng thước ngọc, những qui luật đạo đức nếu ai thực hành nhất định sẽ được an vui giải thoát, chứng quả Bồ Đề Niết Bàn tại thế gian này.

Nên có bài kệ tán thán Pháp bảo:

Kính lạy Pháp lời vàng cao cả,

Bốn chín năm Phật đã chỉ bày

Ba thừa quyền thật không hai.

Căn cơ thuần thục nói ngay Nhất thừa”.

Tóm lại, pháp của Phật là diệu dược trị được thân bệnh và tâm bệnh của chúng sanh như Kinh Niết Bàn nói:

Thân tâm thanh tịnh màu xuân sắc.

Mỗi niệm tiệm tu phước huệ sanh.”

c - Niệm Tăng: Tức là luôn luôn nhớ đến công đức của Tăng Bảo, là một hình ảnh thanh tịnh, hòa hợp, giải thoát vô ngã, vị tha. Biết hy sinh cá nhân cho chúng sanh, nguyện giơ cao ánh sáng trí tuệ, nguyện làm mô phạm cho chúng sanh noi theo. Nguyện làm hết bổn phận của người Trưởng Tử Như Lai, trung tôn trong hàng đại chúng và làm phước điền cho chúng sanh như bài kệ tán thán Tăng Bảo.

Kính lạy Tăng người thừa chí cả,

Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu.

Tùy duyên hóa độ vô cầu.

Làm Thầy mô phạm dẫn đường chúng sanh.

d - Niệm Giới: Tức là trong tâm chúng ta luôn nghĩ đến công đức của Giới, đây là năng lực đoạn ác tu thiện, làm cho thân tâm chúng sanh thanh tịnh giải thoát, phước huệ ngày càng tăng trưởng. Cuối cùng chứng quả Bồ Đề và thành Phật trong tương lai. Như cổ Đức nói:

Kính lạy Giới hay sanh Định Huệ

Lớn căn lành giới thể Như Như

Bao nhiêu ác nghiệp tiêu trừ

Tam thừa chứng quả Vô Dư Niết Bàn.”

e - Niệm Thí: Tức là trong tâm chúng ta luôn luôn nghĩ đến việc bố thí, để phát triển tâm xả, nuôi lớn tâm vô tham. Và đồng thời đoạn trừ tâm xan tham, bỏn xẻn của chính mình. Do bố thí nên tạo được sự tương thân tương ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Tóm lại, do bố thí tài sản, giáo pháp và vô úy thí nên thành tựu được phước trí trang nghiêm. Cụ thể hơn, như Đức Phật xưa cũng do bố thí mà thành tựu 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, giác ngộ thành Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói:

Xưa vì chúng sanh khởi đại Bi

Tu hành bố thí Ba La Mật

Nên được quả báo thân đẹp đẽ

Chúng sanh trông thấy đều vui mừng”.

f- Niệm thân: Tức là luôn luôn vận dụng trí tuệ quán sát thân này là bất tịnh, vô thường, vô ngã. Tại sao? Vì do nhân duyên hòa hợp mà thành , mà bản chất các nguyên tố cấu thành đã bất tịnh vô ngã. Khi chúng ta quan sát thân này là như thế, tức nhiên không chấp ngã và ngã sở. Do đó, thấy thân này là không, như vậy thành tựu được không thân mà không thân tức là thân Phật. Cổ Đức nói: “Không thân sanh Đại giác”.

Đồng quan điểm này Vĩnh Gia Đại Sư có nói:

“Vô minh thật tánh tức Phật tánh

Ảo hóa không thân tức Pháp thân”.

g- Niệm vô thường: Vô thường là một quy luật vận động do tính vận động của các pháp. Do đó chúng luôn thay đổi, vạn vật không bao giờ đứng yên mà nó luôn vận động biến dịch từng sát na và bốn định luật sau đây chi phối:

- Với thế giới là: thành - trụ - hoại - không

- Với vạn vật là : sinh - trụ - dị - diệt

- Đối với hữu tình chúng sinh: sanh – lão - bệnh - tử.

Vô thường đây có ba: Thân,tâm và hoàn cảnh vô thường. Tuy nhiên, sau khi chúng ta nhận thấy lý vô thường của các pháp thì cũng phải nhận thấy được tính chất bất sanh bất diệt của bản thể. Tự tại vô ngại khi đứng trước mọi sự thay đổi của các pháp.

Như Vạn Hạnh Thiền Sư nói:

“Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời

Sá chi suy thạnh việc đời

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành”.

Và nổi bật nhất và lạc quan nhất là tinh thần chơn thường xuất hiện khi sinh diệt vô thường không còn.

Kinh Niết Bàn, Đức Phật dạy: “Các pháp hữu vi là vô thường, vì là pháp sanh pháp diệt. Nhưng sinh diệt diệt rồi, tịch diệt ấy là vui”.

h- Niệm không: Tức là tâm luôn luôn nhận thức rằng bản chất và hiện tượng các pháp là không , Tại sao? Vì do nhân duyên sinh, mà một khi đã do nhơn duyên sinh nên vô tánh là không thực có. Chỉ do các duyên hợp lại tạo thành, nên không có chủ tể, không tự tại.

Như Kinh Bát Nhã, Đức Phật dạy:

“Trong tất cả các pháp

    Nhơn duyên sanh vô chủ

    Dứt tâm suốt nguồn gốc

    Gọi là vị Sa Môn”.

Hay nói cụ thể hơn, muốn biết các pháp là không, đương nhiên chúng ta phải vận dụng trí tuệ quan sát các pháp hữu. Như lời Phật dạy:

“Hãy xem các pháp ở đời,

Dường như huyễn mộng có rồi hườn không.

Cũng như bọt nước trên sông

Như làn điện chớp nắng hồng sương mai”.

Tuy nhiên nói Không ở đây tức là chỉ cho không có tự tánh cố định, không thường còn, không chủ tể, không tự tại, chớ không phải là không , không có gì cả. Để làm sáng tỏ ý này Ngài Huệ Sinh Thiền Sư nói:

Pháp có cũng như không,

Chẳng có cũng chẳng không

Nếu người biết pháp ấy

Chúng sanh cùng Phật đồng

Trăng Lăng Già phẳng lặng

Thuyền Bát Nhã chơn không.

Biết không rồi biết có

Chánh Định cứ rong chơi”.

Hay nói một cách tuyệt đối, có không chỉ là giả đặt mà thôi. Tại sao? Vì còn đối đãi. Thế nên, Từ Đạo Hạnh Thiền Sư cũng nhấn mạnh:

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Ví như bóng nguyệt dòng sông

Cho hay mới biết có không là gì.”

k- Niệm vô tướng: Tức là tâm chúng ta luôn nhớ tưởng đến tướng các pháp là không. Tại sao? Vì các pháp do duyên sanh nên vô tướng, tức không có tướng cố định. Vì bản chất (nhơn) của chúng không, thì (quả) cũng là không.

Như Kinh Kim Cang nói:” Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.”

i- Niệm vô nguyện: Vì bản chất các pháp là không, hình tướng cũng không, tức là bình đẳng ly tướng. Do đó, nếu như có một tâm niệm nguyện cầu, tức là phân biệt trở thành năng sở đối đãi thành ra vọng niệm.

Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy:

Tự tâm chấp tự tâm,

Phi huyễn thành huyễn pháp”.

Hay như Ngài Trương Chuyết tú tài khẳng định:

Đoạn trừ phiền não càng thêm bệnh

Xu hướng chơn như chính là tà”.

Tóm lại, pháp của Phật tu nhưng không có pháp để tu, chứng nhưng không có pháp để chứng, Niệm nhưng không có pháp để Niệm. Hành nhưng không có pháp để hành. Như vậy mới thật tu, thật hành, thật niệm và thật chứng. Vì không có năng sở, tức là không còn ngã và pháp chấp. Như Hòa Thượng Long Tế dạy:

Không còn chấp tâm và cảnh,

Mới ngộ lý sắc không.

Muốn biết bản lai thể

Kìa mây trắng với non xanh.”

       6 - Định

Định nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng, một pháp môn duy nhất, không để cho tâm ý tán loạn, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa. Định có thể chia làm ba loại.

*An trụ định: Để tâm an trụ vào định cảnh, không cho tán loạn, do đó phiền não được tiêu trừ.

*Dẫn phát định: Do đoạn sạch phiền não nên được phát sanh sáu món thần thông và các công đức thù thắng.

*Thành sở tác định: Do đã phát khởi được các công đức, thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết Bàn.

        7 - Xả

Xả nghĩa là bỏ ra ngoài không vướng bận. Xả tức là hành tâm sở, một trong 11 món thiện tâm sở.Hành xả là nghĩa như thế nào?

Người tu hành nhờ trí sáng suốt, nhận biết thọ là khổ, nên không nắm giữ một thứ gì hết, dù là quí báu. Ngay trong sự tu hành cũng vậy, họ không trụ trước ở các pháp mình đã tu, đã chứng, trái lại họ luôn luôn xả bỏ những gì mình đạt đến, để tiến thẳng trên bước đường đi đến giải thoát. Nếu người tu hành cứ mãi say đắm vào quả vị mình đã chứng, thì suốt đời sẽ bị trầm nơi đó, không bao giờ có thể tiến lên để đạt thành Đạo quả Vô thượng Bồ Đề.

Giáo pháp của Đức Phật ví như ngón tay chỉ mặt trăng “ Nhất thiết tu đa la như tiêu nguyệt chỉ”, chúng ta chỉ nương ngón tay để thấy được mặt trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng thì không thể nào được.

Do đó người tu hành phải như người nương thuyền qua sông, khi thuyền đã cập bến, nếu ta không bỏ nó để lên bờ thì đừng mong đi đến đâu được. Người muốn thành tựu đấng siêu việt tự tại, cần phải từ khước mọi đắm say. Pháp này giúp chúng ta thành tựu sự siêu thoát ấy.

C/ KẾT LUẬN

Người tu bảy pháp Bồ Đề Phần này chắc chắn sẽ được bốn kết quả sau đây.

1/ Tất cả pháp ác đều được tiêu trừ.

2/ Tất cả các pháp lành đều được tăng trưởng.

3/ Vì thường tu thiện, đoạn ác, nên luôn luôn được an lạc, không bị đau khổ.

4/ Sẽ chứng thành Phật quả.

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.835
Đang truy cập
Hôm qua: 373
Tổng truy cập: 747.218
Số người đang online: 8