Top

tin tuc ngay nay

Tứ Quả Thanh Văn

Thứ 2 | 27/04/2020
Tiêu chuẩn để đánh giá các quả vị Thánh là dựa vào mức độ tăng trưởng đạo quả qua việc phá trừ các kiết sử (samyojana).

A. MỞ ĐỀ

Tứ quả Thanh Văn là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra giúp hành giả đánh giá được sự tu chứng của mình. Người chứng được một trong bốn Thánh quả này được xem là có tư cách của bậc Thánh, có Thánh tính, có giá trị làm Thánh, vượt lên sự tầm thường của con người, nếu ai cung kính cúng dường các vị này sẽ có phước rất lớn tùy theo cấp bậc chứng ngộ của họ. Tiêu chuẩn để đánh giá các quả vị Thánh là dựa vào mức độ tăng trưởng đạo quả qua việc phá trừ các kiết sử (samyojana). Có mười kiết sử bao gồm:

  • Năm lợi sử (thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, và tà kiến) sợi dây trói buộc nhanh được diệt trừ;
  • Năm độn sử (tham, sân, si, mạn, và nghi), sợ dây trói buộc khó được diệt trừ.

Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về Tứ quả Thanh Văn là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra là gì?

B. CHÁNH ĐỀ

I. ĐỊNH NGHĨA

Tứ quả Thanh Văn có nghĩa là: Tứ là bốn, quả là quả vị hay kết quả tu chứng. Thanh văn là nghe âm thanh. Bốn quả Thanh văn là chỉ cho các vị đệ tử của đức Đạo sư khi còn tại thế, nhờ nghe âm giáo dạy dỗ của đức Đạo sư mà các ngài chứng ngộ bốn quả vị. Bốn quả Thanh văn gồm có:

  1. Tu-đà-hoàn (srota-āpanna) còn gọi là nghịch lưu quả.
  2. Tư-đà-hàm (sakradāgamin) còn gọi là Nhất lai quả.
  3. A-na-hàm (anāgāmin) còn gọi là Bất hoàn quà.
  4. A-la-hán (arhat) tức là A-la-hán quả.

 

  1. Tu-đà-hoàn là quả vị của những chúng sanh phàm phu bắt đầu nhập vào hay dự vào dòng Thánh đạo nên bắt buộc hành giả phải đi ngược dòng sanh tử, do đó đức Đạo sư gọi bước đi của họ là nghịch lưu, có nghĩa là đi ngược dòng sinh tử để đi đến Thánh đạo, tức là hành giả muốn đạt được quả vị này phải đoạn trừ sạch Kiến hoặc ba cõi (một trong ba hoặc của vô minhkiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc).
  2. Tư-đà-hàm là quả vị của những hành giả dục giới cùng cõi trời Dục lục đã đoạn trừ được tư hoặc sáu phẩm trước trong chín địa của dục giới và, chỉ còn một lần sanh trở lại nhân gian nữa, cho nên cũng gọi là Nhất lai. Quả vị này vẫn còn trong dự lưu quả.
  3. A-na-hàm là quả vị của những hành giả đã đoạn trừ ba hoặc còn lại của chín phẩm dục giời và sẽ không còn sanh trở lại dục giới nữa, mà sẽ sinh về sắc giới hay vô sắc giới tùy thuộc vào kết quả sâu cạn của nó mà thôi.
  4. A-la-hán là quả vị cuối cùng của bốn quả, hành giả đã đoạn trừ hết kiến và tư hai hoặc không còṇ, là cực quả của hàng Thinh Văn thừa, vĩnh viễn đi vào Niết-bàn không còn tái sinh vào ba cõi nữa, cho nên gọi là bất sinh.

II. THÀNH PHẦN

Đây là Bốn quả sa-môn của Thinh Văn thừa, có nơi còn gọi là bốn quả Sa-môn. Chúng tôi sẽ trình bày một cách chi tiết và những liên hệ duyên khởi với bốn hướng lệ thuộc trong nội hàm cần phải có trước khi hành giả đi đến những quả vị này.

1 . Tu-đà-hoàn (Skt: Srota-āpanna) (P: Sotāpanna)

Tu-đà-hoàn là quả Thánh tối sơ trong bốn quả Thinh Văn thừa, là sơ quả, quả vị đạt được của Thánh giả khi hành giả đã đoạn trừ sạch mọi kiến hoặc, nhờ hành giả thấy được lý của Tứ đế, đạt được mắt trí tuệvô lậu thanh tịnh. Nhờ vào đây mà hành giả có thể đến thẳng quả Dự lưu, không đọa vào ba đường ác nữa, nên gọi là pháp vô thối đọa; nhưng vì hành giả của quả vị này còn chưa chứng nhập vào quả vị nên chưa gọi là quả mà gọi là hướng, có nghĩ là hành giả cò một tâm vị cuối cùng trong mười sáu tâm vị để chứng hập vào quả vị Tu-đà-hoàn, nên hành giả cần phải hoàn thành nốt tâm vị mười sáu mới hoàn thành được quả, là phải đoạn trừ hết kiến hoặc của ba cõi, dùng tất cả mười sáu tâm vị mà nhập vào địa vị vô lậuThánh đạo. Thánh giả trong mưới sáu vị kiến đạo vì căn cơ có chậm có nhanh nên phân ra làm hai:

  1. Tùy tín hành, là chỉ cho những vị căn độn, chậm chạp, tự mình không thể lịch duyệt văn bản giáo pháp, chỉ tin vào những lời dạy của người khác mà được ngộ đạo.
  2. Tùy pháp hành, chỉ cho những vị có lợi căn bén nhạy, tự mình có thể lịch duyệt văn bản giáo pháp của Phật theo pháp mà thực hành. Vì ở đây hành giả tùy theo căn cơ mà theo pháp hành, đoạn được kiến hoặc của ba cõi, có nghĩa là người đang đi nghịch lại dòng sinh tữ luân hồi, nên dự vào dòng Thánh và chứng nhập vào sơ quả của bậc Thánh, cho nên gọi là Dự lưu.

Tu-đà-hoàn phân ra làm hai vị nhân quả, đó là tự nhập vào từ “Kiến đạo” sơ tâm cho đến thập ngũ tâm, đó là giai đoạn tác nhân hướng đến quả Tu-đà hoàn thì, giai đoạn này gọi là Tu-đà-hoàn hướng. Sau khi hành giả đạt được Tu-đà-hoàn hướng rồi thì tiếp theo là phải hoàn thành vị cuối cùng của “Kiến đạo” là thập lục tâm vị (Khi hành giả tiến vào kiến đạo thì phải dùng trí vô lậu mà hiện quán về Tứ đế thì sẽ được mười sáu loại trí tuệ gọi là thập lục tâm, tức là đối với Tư đế, mỗi đế tự sanh ra bốn cách lý giải cộng lại thành mười sáu), nếu vị này hoàn thành được thì đạt được quả vị Tu-đà-hoàn rốt ráo, đó chính là cái quả của Tu-đà-hoàn, là cái sơ quả chính trong bốn Thánh vi của Thinh Văn thừa.

Theo Thông Lộ Ký của Ngũ Giáo Chương 50, hành giả của quả dự lưu được phân ra làm ba loại:

  1. Hiện ban Dự lưu, là khi “Tư hoặc” ba cõi của hành giả đều đoạn tận thì sẽ đạt được quả vô học mà chứng nhập vào Bát Niết-bàn, dành cho các hành giả thuộc vào hàng có lợi căn.
  2. Hiện tiến Dự lưu, nhờ có tiến tu mà hành giả đoạn trừ được sáu phẩm trước cho đến chín phẩm “Tư hoặc” của dục giới, mà chứng nhập vào “quả nhất lai” cùng chứng nhập vào “quả Bất hoàn” dành cho hành giảthuộc vào hàng có căn cơ hạng trung.
  3. Thọ sanh Dự lưu, chỉ cho những hành giả sinh qua lại trong cõi trời hay cõi người hoặc một, hai lần cho đến bảy lần thuộc vào hàng có căn độn chậm lụt. Đó chính là hai thuộc tính của nhân quả Tu-đà-hoàn.

2 . Tư-đà-hàm (Skt: Sakadāgamin) (P: Sakadāgāmi),

Tư-đà-hàm là quả Thánh thứ hai trong bốn quả Sa-môn Thinh Văn thừa, có nghĩa là Thánh giả khi tu tập đạt đến quả vị này thì chỉ còn có một lần sanh lại cho nên gọi là Nhất lai. Hơn nữa trước khi Thánh giả muốn đạt được Tư-đà-hàm quả này thì Thánh giả phải hoàn thiện Tư-đà-hàm hướng sau đó mới mong đạt được quả vị này, tức là thánh giả của Dự lưu quả (Sơ quả) ngoài việc hoàn thành việc đoạn trừ tư hoặc dục giới từ nhất phẩm cho đến ngũ phẩm của Tư-đà-hàm hướng, có nghĩa là lúc này hành giả mới chỉ đạt được Tư-đà-hàm hướng hay còn gọi là Nhất lai hướng; chỉ khi nào Thánh giả hoàn thành việc đoạn trừ Tư hoặc dục giới phẩm thứ sáu thì mới gọi là Tư-đà-hàm quả và, lúc này Thánh giả chỉ còn một lần sinh từ trên trời đến nhơn gian hay ngược lại từ nhân gian lên đến trời mới vào Niết-bàn. Từ đây trở lui về sau thánh giả không còn tái sinh nữa, lúc này mới gọi là Tư-đà-hàm quả hay là Nhất lai quả.

Qua đây, cho hành giả chúng ta thấy rằng trong chín phẩm Tư hoặc dục giới mà nếu Thánh giả đoạn trừ được sáu phẩm trước thì tùy theo thuộc tính của kết quả đó mà Thánh giả nhận được theo tên gọi của nó, còn ba phẩm cuối chưa trừ được Tư hoặc, nên còn phải qua một lần tái sinh từ cõi trời vào nhơn gian mà vào Bát Niết-bàn, vì vậy cho nên gọi là Nhất lai.

          Theo Tăng Nhất A-hàm 20 (Đ.2, tr. 653c) đức Đạo sư dạy: “Sao gọi là hoa Bân-đà-lợi Sa-môn? Hoặc có người, hết ba kết sử, nhẹ dâm nộ si, thành tựu quả Tư-đà-hàm, lại đến thế gian này, tận cùng hết khổ; hoặc người nhanh nhẹn đến thế gian này, tận cùng hết khổ; hoặc người dõng mãnh, đối thế gian này tận cùng hết khổ, giống như hoa Bân-đà-lợi sớm nở tối tàn, đó gọi là hoa Bân-đà-lợi Sa-môn.” Y cứ vào đây, chúng ta có thể biết rằng cùng là Thánh giả của Nhất lai quả cũng có thể tế nhị phân ra làm hai:

  1. Công dõng mãnh nhanh chóng tu hành của họ gọi là hoa Bân-đà-lợi Sa-môn.
  2. Công chậm chạp lề mề tu hành của họ gọi là Nhất lai. Ở đây chúng tùy thuộc vào sự nổ lực tinh tấn của Thánh giả nhanh hay chậm và, cũng tùy thuộc vào đó mà có thời gian hòan thành nhanh hay chậm mà thôi.

3 . A-na-hàm (Skt: Anāgāmin) (P: Anāgami),

A-na-hàm là quả thứ ba của Thánh giả trong Bốn quả Sa-môn Thinh Văn thừa, có nghĩa là ở đây, hành giả nào đọan trừ hòan tòan rốt ráo được ba phẩm còn lại cuối cùng trong chín phẩm thời gọi là A-na-hàm quả có nghĩa là Bất hòan quả (anāgāmi-phala); nếu trong ba phẩm còn lại mà hành giả chỉ đọan trừ được một hoặc hai phẩm mà còn lại hai hoặc một phẩm chưa đoạn trừ thì chưa gọi là A-na-hàm quả được mà chỉ gọi là A-na-hàm hướng có nghĩa là Bất hòan hướng (anāgāmi-pratipannaka).

Như vậy, Quả thứ ba của Thinh Văn thừa là A-na-hàm quả này cũng chia ra làm hai như hai quả trên là A-na-hàm hướng và A-na-hàm quả. Nếu Thánh giả chỉ mới hòan thành được một hoặc hai trong ba phẩm còn lại thì gọi là hướng, còn nếu hành giả nào hòan thành cả ba phẩm còn lại thì gọi là A-na-hàm quả. Trong giai đọan hành giả hòan thành A-na-hàm hướng, tức là chỉ đọan trừ được một tư hoặc, thứ bảy, hay hai tư hoặc, thứ bảy và tám, tức là còn lại một hay hai phẩm thì hành giả đang ở trong giai vị, buộc phải thọ sanh một lần trong cõi trời thuộc dục giới (trời lục dục) gọi là Nhất gian (ekavīcika); cũng gọi là Nhất sanh, Nhất phẩm hoặc, cũng gọi là Nhất chủng tử. Trong giai đọan hành giả đã đọan trừ hòan tòan ba phẩm tư hoặc cuối cùng của cửu phầm tư hoặc thì, đó chính là lúc Thánh giả không còn tái sinh trở lại cõi dục nữa. Vì hành giả không còn tái sinh vào cõi dục nữa cho nên gọi là Bất hòan.

Trong quả Bất hoàn có thể phân ra làm năm loại, gọi là ngũ chủng bất hoàn, có nơi còn gọi là ngũ chủng A-na-hàm, ngũ bất hòan quả, hay ngũ chủng ban đó là:

  1. Trung ban, chỉ cho Thánh giả bất hòan quả khi chết ở cõi dục được sinh về cõi sắc, ở vị “trung hữu” của sắc giới mà nhập vào Bát Niết-bàn.
  2. Sanh ban, Thánh giả đã sinh về sắc giới không lâu có khả năng phát khởi Thánh đạo, đọan trừ được hoặc nghiệp của vô sắc giới mà Bát Niết-bàn.
  3. Hữu hành ban, Thánh giả sanh vào cõi sắc, tinh tấn thực hành thêm, qua thời gian lâu dài hơn nữa mà vào Bát Niết-bàn.
  4. Vô hành ban, hành giả sanh về cõi sắc, nhưng chưa tinh tấn thực hành thêm, phải trải qua lâu ngày chầy tháng mới đoạn trừ được hoặc nghiệp của cõi vô sắc mà vào Bát Niết-bàn.
  5. Thượng lưu ban, trước hành giả sinh về sơ thiền cõi sắc, dần dần sanh lên trong các trời khác ở cõi sắc, cuối cùngđến trời sắc cứu cánh hoặc trời Hữu đảnh mà nhập Bát Niết-bàn.

Lại nữa, Thánh giả nào nhập vào Diệt tận định, chứng đắc giống như cái vui Niết-bàn tịch tịnh của Bất hòan quả, còn gọi là thân chứng hoặc gọi thân chứng bất hòan mà đọan trừ chín phẩm tư hoặc cõi dục, nhưng Thánh giả nào đạt được Bất hòan quả ở đây, thì sẽ lại sinh khởi phiền nãodục giới trở lại mà tự thối đọa Bất hòan quả, vì vậy cho nên gọi là Ly dục thối (thối ly dục). Đó là những gì sai biệt có được từ A-na-hàm quả và Diệt tân định, tuy cái vui giống nhau nhưng một bên là Bất hòan quả còn một bên trở thành ly dục thối hay Bất hòan quả thối đọa.

4 . A-la-hán (Skt: Arhat) (P: Arahant),

A-la-hán là quả thứ tư của bốn quả Sa-môn Thinh văn thửa, là một trong mười danh hiệu của đức Như lai, chỉ cho những vị Thánh đã đoạn tận tất cả những phiền não mà được Tân trí, đáng được người đời cúng dường; nhưng sau này nghĩa thứ nhất được dùng nhiều để chỉ cho những vị Thanh văn đệ tử của Như lai đã chứng được bốn quả vị mà nói hơn là nghĩa thứ hai.

A-la-hán có ba nghĩa: Sát tặc, Ứng cúng, Bất sanh.

  • Sát tặc: Trước hết quả vị này các hành giả Thinh văn thừa muốn đạt được cực quả này thì cần phải đoạn trừ sạch hết tất cả hai thứ vô minh Tư hoặc và Kiến hoặc.
  • Ứng cúng: Thành tựu quả vị này, hành giả xứng đáng nhận sự cúng dường của Trời - Người.
  • Bất sanh: Từ đây quả báo hết một đời cũng chấm dứt, vĩnh viễn vào Niết-bàn không bao giờ tái sinh trở lại ba cõi nữa.

Theo Câu Xá luận 24 thì, từ quả bất hoàn tiến tu để đoạn trừ hẳn các hoặc nghiệp. Bắt đầu từ sơ định phẩm một cho đến đoạn trừ hữu đảnh phẩm tám sau cùng thì lúc này được gọi là A-la-hán hướng. Ở đây nói về chức năng đoạn trừ hoặc của hữu đảnh trong A-la-hán hướng, còn đệ cửu vô gián đạo được gọi là kim cương định, tất cả mọi tùy miên điều bị phá trừ; trong vô gián đạo những khả năng đoạn hoặc thì định này tương ưng tối thắng … và trong đoạn hoặc định này cũng là đạo vô gián sau cùng và cũng là nơi sinh ra tận trí đạo giải thoát tối hậu. Do vì định này vừa đoạn trừ lậu tận vừa sinh ra đạo giải thoát tối hậu nên được gọi là tận trí. Khi tận trí được sinh ra thì cũng là lúc quả vô học A-la-hán thành tựu. Ở đây hành giả nhờ vô họcmà thành quả nên biệt quả này không từ sự học của hành giả hữu học mà có nên được gọi là Vô học. Đây là quả vị cuối cùng của bốn quả Sa-môn theo quan điểm của các nhà Thinh văn thửa; tuy nhiên theo các nhà Đại thừa thì quả vị A-la-hán không những chỉ dành riêng cho các hàng Thinh văn không thôi mà dùng chung cho cả ba thừa như Thành Duy thức luận 3 (Đ. 31, tr. 13a đã dạy: “A-la-hán, chỉ chung cho quả vị Vô học của ba thừa.”

Về ý nghĩa của A-la-hán theo luận Đại Tỳ-bà-sa 94 (Đ. 27, tr. 487b) thì, “Nhằm đáp ứng sự thọ nhận cúng dường tối thắng của thế gian, cho nên gọi là A-la-hán, vì ở thế gian không có những mạng duyên thanh tịnh nào, ngoài các vị A-la-hán nơi đáng được sự nhận lãnh. Hơn nữa, A-la là chỉ cho tất cả phiền não, Hán là có khả năng làm tổn hại, dùng đao bén trí tuệ sát hại giặc phiền não khiến chúng không còn nữa, cho nên gọi là A-la-hán. Và A-la-hán còn có nghĩa là: A là không, La-hán là sanh, vì không sanh cho nên gọi là A-la-hán; nghĩa là là các vị A-la-hán không còng sinh trở lại trong sinh tử luân hồi ba cõi sáu đường nên gọi là bất phục sinh.”

Lại nữa, A-la còn có nghĩa là xa lìa, Hán có nghĩa là pháp ác bất thiện, vì hành giả xa lìa các pháp ác bất thiện nên gọi là A-la-hán.” và theo Đại Trí Độ luận 2 thì, A-la-hán có ba nghĩa: Sát tặc, Bất sanh và, Ứng thọ cúng dường. Nếu y cứ vào ngữ căn √arh của từ arhan (= arhat) có nghĩa là ‘đáng nhận’ (kham thọ) hay ‘được làm mọi việc’ (đắc tác mỗ sự) theo nghĩa này thì arhat chủ cách có nghĩa là tác Ứng cúng. Nhưng theo Câu Xá luận24 thì chỉ nên làm việc người (Ứng tác tha sự), tức là nơi ứng cúng cho mọi người nên gọi là A-la-hán.theo Đại Thừa Nghĩa Chương 20 thì, A-la-hán có bốn nghĩa:

  1. Phật Ứng đoạn tấc cả các pháp ác nên gọi là Ứng.
  2. Như Lai Ứng chứng Niết-bàn tịch diệtnên gọi là Ứng.
  3. Như lai Ứng hóa tất cả chúng sanh nên gọi là Ứng.
  4. Như lai đoạn tận lậu hoặc đạt phước điền thanh tịnh, Ứng thọ vật cúng dường nên gọi là Ứng cúng.

Theo Thành Duy Thức luận thuật ký 3 thì cũng định nghĩa A-la-hán như sau: “A-la-hán nghĩa chính là Ứng. Ứng có nghĩa là khế hợp thừa đương. thích ứng đoạn phiền não, thích ứng nhận cúng dường, ứng hợp với việc không tái sinh trở lại đời sau. Chỉ nói một nghĩa thì thông ba nghĩa, nên nói Như lai ứng, không nói ứng cúng (một nghĩa) nếu thêm chữ cúng vào thì chỉ có một nghĩa, liền mất hai nghĩa kia.” Qua những định nghĩa về A-la-hán như trên, tuy cũng có một vài điểm không đồng nhất, nhưng trên ý nghĩa đưa đến rốt ráo thì kinh luận nào cũng nói đến việc đoạn trừ xa lìa ác pháp bất thiện để đưa đến Niết-bàn thì cùng chung một quan điểm. Có thể đây là những sai biệt về cách thức định nghĩa hay giải thích theo từng thuộc tính của các bộ phái nên có những hình thức không đồng bộ như vậy.

Về việc phân loại A-la-hán cũng có rất nhiều loại tùy thuộc vào ý nghĩa và trình độ qua quá trình tu tập mà các kinh luận sắp xếp theo trình độ kiến giải qua sở đắc của từng loại căn cơ có được của hành giả. Theo Tạp A-tỳ-đàm tâm luận 5, Câu Xá luận 5 & 25 của Hữu bộ đem A-la-hán phân ra làm sáu loại:

  1. Thối pháp A-la-hán, tức là chỉ cho những hành giả khi gặp những trở ngại trên đườ tu liền thối mất những sở đắc mà họ (A-la-hán) đã đạt được.
  2. Tư pháp A-la-hán, do lòng sợ hãi thối thất quả vị, mà thường nghĩ đến việc tự sát.
  3. Hộ pháp A-la-hán, nhờ quả vị chỗ đạt được thường trợ giúp lo sợ (hậu quả) mà không đưa đến sự thối đọa.
  4. Trụ pháp A-la-hán, hành giả không cần đề phòng lòng thối thất, nhưng cũng không làm tăng thên lên, mà chỉ an trụ nơi quả vị đã đạt được.
  5. Kham đạt pháp A-la-hán, hành giả siêng năng tu luyện, cần cầu thăng tiến.
  6. Bất động pháp A-la-hán, hành giả đã đạt đến Đảnh vị, nên không thối đọa trở lại.

Sáu loại A-la-hán này, đều y cứ vào căn cơ lợi độn của các vị A-la-hán mà luận phân biệt. Năm loại trước gọi là “Thời giải thoát” (giải thoát tùy thuộc vào thời gian) thuộc vào độn căn. còn loại thứ sáu gọi là “bất thời giải thoát” (giải thoát không tùy thuộc vào thời gian), thuộc vào loại lợi căn. Trong khi Trung A-hàm 30, kinh Phước điền, Cam lồ vị luận, thượng, Thành Thật luận quyển 1, phẩm Phân biệt Hiền thánh thì, cũng chia ra làm sáu loại A-la-hán như trên, nhưng lại thêm tuệ giải thoát, câu giải thoát (hai chướng định-tuệ đều đoạn trừ), vô ngại giải thoát (đoạn được hai chướng trí-tuệ, thông đạt tất cả văn nghĩa mà được bốn vô biện, cộng lại thành chín loại và được gọi là cửu vô học.

Theo Tam pháp độ luận, quyển trung thì phân A-la-hán làm ba loại: Lợi căn, độn căn và, trung căn; trong lợi cănlại phân làm ba loại: Lập trụ pháp, Thăng tiến pháp và, Bất động pháp; độn căn phân ra ba loại: Thối pháp, niệm pháp và, hộ pháp; trung căn phân ra ba loại: Tuệ giải thoát, câu giải thoát và, bất câu giải thoát. Theo những cách phân loại trên cho chúng ta biết rằng sự phân loại ở đây trước hết chúng tùy thuộc vào trình độ căn cơ sở đắc sau nữa là thời gian huân tập thực hành cạn sâu ngắn dài của hành giả mà có được trong tu tập.

III. Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ

Đức Phật cũng là bậc A La Hán, nhưng là A La Hán chánh đẳng giác. Ngài đã đoạn tận mọi lậu hoặc. Tưng Ưng Bộ Kinh III, phẩm ‘Tham Luyến’, phần ‘Chánh Đẳng giác’ định nghĩa: “Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác.”[13]

Theo Bhikkhu Bodhi, Phật giáo Bắc tạng có sự phân biệt lớn giữa quả vị A la hán và Phật. Nhưng trong kinh tạng Pāli sự khác biệt này là không nhiều. Một mặt, Đức Phật là một vị A la hán, như là điều hiển nhiên từ câu tiêu chuẩn của sự kính trọng với Đức Thế Tôn (iti pi so bhagavā araham sammā sambuddho ...); mặt khác, vị A La Hán là Phật, trong ý nghĩa rằng vị ấy đã đạt tới sự toàn giác, tam miệu tam bồ đề (Sambodhi), bằng cách giác ngộ các chân lý tương tự mà chính Đức Phật đã nhận ra. Có sự khác biệt nhỏ ở đây là giữa thuật ngữ Tam Miệu Tam Bồ Đề (Sambuddha Samma) và Thế Tôn Chánh Đẳng Chánh Giác. Một vị A la hán đã đạt được giác ngộ và giải thoát như một người đệ tử (savaka) của một vị Phật hoàn hảo giác ngộ. Và vị Phật là người phát hiện ra con đường giác ngộ ấy rồi chỉ dạy cho hàng đệ tử tuân thủ thực hành theo. Tuy nhiên, để tránh sự phức tạp thêm, chúng ta nên phân biệt về mặt giải thoát chứng đắc và tuệ giác giữa một vị Phật và A la hán.

Về mặt giải thoát, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Giác. Những điều này, tuy nhiên, những khía cạnh của con đường mà Đức Phật đã hoàn thành chung với các đệ tử A La Hán. Tức đồng đẳng về mặt giải thoát.

Kinh tạng Nikāya đề cập đến sự khác biệt như giữa Như Lai Thế tôn, các vị A La Hán, là “Một bậc Thế Tôn Giác Ngộ’ và ‘một Tỷ kheo giải thoát bởi trí tuệ: “Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.”

Thế Tôn phân biệt sự khác biệt giữa Thế Tôn và các đệ tử A-la-hán như vầy: “Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn này, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu đạo.”

C. KẾT LUẬN

Tóm lại, Tứ quả Sa-môn là bốn quả vị của các hàng Thinh văn thừa từ bước chân nghịch lưu ban đầu cho đến bước cuối cùng là vào Niết-bàn tịch diệt vĩnh viễn. Khi một hành giả bước chân vào dòng nghịch lưu của dòng sinh tử luân hồi thì tự mỗi hành giả phải tùy thuộc vào hướng đi, khi hướng đi đến đã đạt thì, sau đó quả vị mới hiện hữu. Khi nào quả vị của mỗi hành giả thành tựu cho mỗi hướng đến thì sau đó hành giả mới bước được bước kế tiếp, lệ thuộc vào thời gian và sự thành tựu của pháp ấy.


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 260
Pháp Âm: 7.081
Đang truy cập
Hôm qua: 220
Tổng truy cập: 586.327
Số người đang online: 5