Top

tin tuc ngay nay

Tứ vô lượng tâm

Thứ 4 | 17/03/2021
Năng lực của bốn Tâm vô lượng soi sáng lòng người, cải thiện con người và chuyển hóa cuộc đời khổ đau thành hạnh phúc.
A - MỞ ĐỀ

                                                       “Có một ánh sao 

                                                       Vừa mới chiếu vào 

                                               Vô lượng rọi sáng tâm nào 

                                           Từ Bi Hỷ Xả dạt dào muôn nơi!

   Trong quá khứ cũng như tương lai, con người thường băn khoăn tự hỏi đâu là hạnh phúc, đâu là mạch sống? Nhìn cuộc đời qua những cảnh bể dâu con người luôn lo sợ trước cuộc sống. Một hiền triết Tây phương đã nói: “Tôi luôn luôn sống trong lo sợ và chết trong hoài nghi”. Đức Phật của chúng ta đã ra đời đáp ứng mọi nguyện vọng thâm sâu thầm kín nhất của con người, mở ra cho nhân loại một nguồn sống bất tử. Đạo Phật lấy con người làm trung tâm điểm, nhằm mục đích chuyển hóa con người từ mê lầm đến giác ngộ; Đạo Phật không xa lìa tách khỏi cuộc đời; Đạo và đời là nhất thể. Đạo Phật không chủ trương chạy trốn khổ đau, mà luôn phát khởi tình thương làm chất liệu nuôi dưỡng sự sống, xây dựng cuộc đời bằng lý tưởng giải thoát giác ngộ.

   Cuộc sống biểu lộ được tinh thần từ bi và trí tuệ xuyên qua bốn Tâm Vô lượng đó là Tâm Từ vô lượng, Tâm Bi vô lượng, Tâm Hỷ vô lượng và Tâm Xả vô lượng. Năng lực của bốn Tâm vô lượng soi sáng lòng người, cải thiện con người và chuyển hóa cuộc đời khổ đau thành hạnh phúc.

    Ngày nào con người còn đắm chìm trong bóng tối và vô minh, trong ngục tù tham ái, ngày đó đạo Phật còn có nhiệm vụ hướng dẫn con người thực hiện bốn Tâm vô lượng để giải thoát khổ đau. Chứ không thể thoát khỏi khổ đau bằng cách cầu cứu ở một vị thần linh để ban phước giáng họa, mà chính ở tình thương trong sáng đạt đến lòng thương yêu với tình yêu bình đẳng, tâm hồn luôn luôn rộng mở để thấy sóng tình người; đem tình thương bảo vệ mọi người, mọi loài cùng nhau chia sẻ những ước vọng tâm linh, khơi dậy tính siêng năng hành thiện đang ngủ quên trong tâm thức.

    Xem thế thì đủ biết Tâm là động lực chính để làm cho ta vui hay khổ. Vậy muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi, muốn được quả vị Thánh Nhân, Bồ Tát; chúng ta hãy phát tâm rộng mở để làm lợi ích cho chúng sanh hướng đến Tứ Vô Lượng Tâm.

B - CHÁNH ĐỀ

  1. Định nghĩa Tâm Vô lượng

Vô lượng là gì? Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn không thể lường tính được. Tâm Vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm sai lầm chấp trước hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa; là Tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sanh. Vô lượng Tâm cũng có nghĩa là Đẳng tâm, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng vì tâm này chỉ tự nhiên không phân biệt so đo cao thấp, hơn kém, bởi nó trang trãi mọi nơi không giới hạn.

   Do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sanh, nên Tâm này còn có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức. Làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp. Hơn nữa Tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, dẫn sinh vô lượng phước đức và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới, mà còn lan rộng đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau.

   Tóm lại, chữ Vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa: vô lượng nhân lành, vô lượng quả báo đẹp, vô lượng chúng sanh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ tát.

  1. Thành phần và hành tướng của bốn món Tâm Vô lượng

Tâm Vô lượng gồm có 4 thành phần là: Từ Vô lượng, Bi Vô lượng, Hỷ Vô lượng và Xả Vô lượng.

  1. Từ Vô lượng

  Từ vô lượng là ban vui, là tình thương yêu muôn loài, bao trùm tất cả chúng sanh, lòng yêu thương được thực hiện bằng cách đem lại niềm vui cho mọi người, mọi loài và tạo cho chúng sanh cái vui chơn thật.

  Vui của thế gian sở dĩ gọi là vui giả tạm vì cái vui ấy không bền, thú vui chỉ mở đường cho đau khổ, luôn bị phiền não chi phối. Khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui; nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu?

   Do đó, Từ là thứ tình thương không có điều kiện, không bờ bến, không biên cương, không hạn định và không chờ đợi sự đền trả; phạm vi hoạt động vô cùng rộng lớn, như ánh thái dương bao trùm muôn vật. Tình thương xuất phát nơi Từ vô lượng mát mẻ, trong sáng như ánh trăng huyền diệu làm cho cuộc đời bớt khổ đau.

   Cuộc đời rất cần đến tình thương để xoa dịu những thương đau trong cuộc sống. Nhưng tình thương của thế gian bao giờ cũng có điều kiện và ẩn chứa ý niệm “ta” và “của ta” nên gây ra sự lo lắng, sầu khổ và thất vọng, làm cho đối tượng của tình thương không có an lạc, hạnh phúc. Vì tình thương ấy ẩn tàng sự đam mê ích kỷ và ước muốn chiếm hữu, chớ không phải là tình thương chân thật. Vì thế, một ngày nào đó trong tương lai sẽ trở thành sự ghét bỏ và hận thù.

   Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật vì nó lâu bền thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si… nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng vì cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. Từ Vô lượng tâm của Đạo phật là tình thương không đặt trên nền tảng của tham ái, đam mê và vướng mắc, không dựa vào ý niệm “ tôi” và “của tôi”, nên không có sự ganh tị và ích kỷ. Từ Vô lượng là thứ tình thương không gây khổ đau và thất vọng mà nó chỉ đem lại sự an bình cho đối tượng thương yêu, đây là tình thương mà nhân loại đang khao khát. Trong đạo lý giác ngộ, thương yêu bao giờ cũng đi đôi với sự hiểu biết, nên tình yêu thương của Từ vô lượng thoát ra khỏi dục tình luyến ái, nên không phát sanh phiền não khổ đau mà chỉ tạo nên an lành và hạnh phúc.

   Từ vô lượng được xây dựng trên nền tảng vô ngã, vị tha nên không có bản chất đam mê và ích kỷ, không đem lại những phiền não khổ đau làm tàn phá cuộc sống con người. Từ vô lượng lấy tình thương chân thật làm chất liệu cho hành động cứu khổ, đem lại sự an bình cho mình, cho mọi người và cho mọi loài.

   Bởi thế các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh thì trước tiên phải có lòng Từ vô lượng. Muốn thành tựu Tâm Từ này Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung không ngoài hai điểm sau đây:

* Tùy cơ: nghĩa là quan sát trình độ, căn cơ của chúng sanh như thế nào, rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Vì tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc Pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Các Ngài sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ ngoài trí huệ sáng suốt còn có một Tâm Từ vô lượng. Nếu không có được trí huệ và nhất là lòng Từ vô lượng như các vị Bồ Tát thì khó tránh khỏi cái nạn thối chuyển.

   Đức Phật có nói: “Như Lai sống trên một ngọn núi giữa đám sư tử, cọp, beo, các thú giữa rừng hoang cỏ rậm không một con vật vật nào sợ Như Lai và Như Lai cũng không sợ con vật nào. Chính là nhờ oai lục của Từ vô lượng nâng đỡ và bảo vệ Như lai sống đời yên ổn.”

* Tùy thời: tức là thích nghi với thời đại, với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần, cuộc thế biến chuyển mỗi lúc một khác, thời tiết có khi mưa khi nắng thay đổi theo bốn mùa thì lòng người cũng có khi này khi khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay đến đâu cũng chẳng thu được kết quả gì.

   Thế nên, muốn độ hóa độ chúng sanh một cách có hiệu quả thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là Tùy cơ và Tùy thời. Do đó, Bồ tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân, lúc làm thiện hạnh, lúc hiện nghịch cảnh… công hạnh của Bồ Tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. Cái vui chơn thật ở đây không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới Cực lạc… mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chơn thật bằng cách thức tỉnh, dắt dẫn chúng sanh tránh các điều dữ, làm các việc lành một cách tích cực, mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm an vui nhờ qua các hành động lành mà kết thành quả vui mới thôi.

    Đem lòng Từ đối xử với tất cả mọi người, mọi loài, tâm ta không còn vương vấn một chút oán thù, thay thế hận thù bằng tình thương vô lượng đó là nếp sống cao đẹp nhất.

   Đức Phật dạy chúng ta nên tu tập lòng Từ để đối trị lòng sân hận, không thể lấy oán thù để diệt sân hận, mà chỉ có lòng Từ mới dập tắt được sân hận. Cho nên, người thực hiện lòng Từ vô lượng thì những tư tưởng bất thiện không bao giờ phát khởi, lấy Từ vô lượng thắng lòng sân hận, lấy hiền lành thắng hung dữ. Chính tình thương là động lực thúc đẩy mọi hành động, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi người, mọi loài.

 Từ vô lượng có một oai lực rất mầu nhiệm, có thể chuyển hóa dữ ra lành, thù thành bạn, tình thương hạn hẹp thành tình thương rộng lớn, người có lòng Từ vô lượng sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của mình, đem đến niềm vui cho người khác, thể hiện Từ vô lượng trong cuộc sống một cách trọn vẹn là đồng hóa mình với tất cả, không có sự khác biệt giữa mình và người. Vì thế, Từ vô lượng không đồng nghĩa với luyến ái, trìu mến của tình thương vị kỷ.

 Người có lòng Từ vô lượng luôn luôn sống an vui và hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, trong tâm không còn chấp chứa những tư tưởng bất thiện, nên sau khi thân hoại mạng chung sẽ tái sinh vào cảnh giới tốt đẹp, hưởng vô lượng quả vui.

 Thế nên, Kinh Thập Thiện nói: “Từ là hay ban vui cho chúng sanh, do lòng Từ trang nghiêm nên đối với chúng sanh không sinh tâm não hại”. Sở dĩ gọi là Từ vì Bồ Tát cũng như hàng đệ tử Phật. Thanh văn, Duyên giác… phải lấy chúng sanh làm đối tượng để phát khởi Tâm Từ. Tức là lòng thương xót mọi loài và tất cả chúng sanh. Mà chúng sanh thì vô lượng vô biên, do đó tâm Từ bi của hàng đệ tử Phật phát khởi cũng phải vô lượng vô biên, để ứng với vô lượng chúng sanh trong pháp giới.

Về Từ có ba bậc:

  1. Chúng sanh duyên từ: tức là lòng Từ phát khởi do sự đau khổ của chúng  sanh, lấy chúng sanh làm đối tượng, trợ duyên cho tâm Từ. Kinh Bát Đại Nhân Giác nói:

                       “Sanh tử bừng cháy, khổ não vô lượng

                         Bồ Tát thường nguyện, phát Đại thừa tâm

                         Tế độ tất cả, nguyện thay chúng sanh

                         Chịu vô lượng khổ, khiến chúng an vui, rốt ráo”.

  1. Pháp giới duyên từ: tức lòng thương xót chúng sanh phát khởi từ quan niệm cùng một pháp giới tánh, tức đồng thể Đại Bi. Do đó, hễ chúng sanh đau khổ tức là mình đau khổ. Chúng sanh còn đau khổ còn bị sanh tử luân hồi, thời Bồ Tát còn phải nỗ lực độ sanh làm cho họ được an vui giải thoát. Lúc đó Tâm mình mới an vui vào Niết bàn hay chứng Vô thượng Bồ Đề.

  2. Vô duyên từ: tức là Từ bi này không còn năng sở đối đãi, nhậm vận thể hiện lòng thương vô bờ bến, đối với chúng sanh khi khởi tâm tưởng niệm thì lúc đó có sự cảm ứng cứu độ làm cho chúng sanh được an vui giải thoát.

 Ví như ánh sáng của mặt trời, mặt trăng chiếu sáng một cách tự nhiên và vô tư. Tuy nhiên, tất cả vạn vật đều được đượm nhuần và hấp thụ một cách tự nhiên và vô điều kiện.

  1. Bi vô lượng

 Tâm Bi cũng là một đức hạnh giúp con người trở nên cao quý và thánh thiện. Bi là lòng thương xót rộng lớn trước những nỗi khổ đau của chúng sanh. Đặc tính của tâm Bi là muốn cứu giúp tha nhân thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Với Bi tâm vô lượng thái tử Siddharta đã rời bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con thơ ra đi tìm đạo, để giải thoát khổ đau của sanh, già, bệnh, chết trút bỏ những gánh nặng đè lên vai của tất cả mọi người, phát khởi lòng bi mẫn sâu xa đối với cuộc đời, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi sanh già bệnh chết sầu bi khổ não.

 Thế nên, ngày nào chúng sanh còn say mê tham đắm trong ngũ dục thì còn bị tham, sân, si chi phối chưa thoát khỏi biển sanh tử luân hồi, nỗi khổ của chúng sanh vô lượng thì Bi tâm cũng phải vô lượng để chuyển hóa khổ đau. Tu tập Bi tâm để đối trị tàn ác, tâm Bi là lòng thương yêu được thực hiện bằng cách làm vơi đi sự đau khổ nơi người khác. Bi cũng là thứ tình thương không điều kiện và cũng không mong đợi sự đền trả, Bi tâm là sự rung cảm chân thành trước khổ đau của tha nhân, muốn phát tâm cứu giúp làm vơi bớt nỗi khổ đau với ước nguyện mọi người mọi loài đều được an vui. Chính do nơi Bi tâm mà thái độ phục vụ cho tha nhân mới thể hiện được tinh thần vô ngã vị tha. Người có Bi tâm lấy nỗi khổ đau của mọi người, mọi loài làm nỗi khổ đau của chính mình. Lấy khổ đau làm chất liệu nuôi dưỡng lòng Bi đức đến ý chí và hành động diệt khổ.

 Năng lực của Bi tâm có thể chuyển hóa kẻ độc ác thành người hiền đức. Tu tập Bi tâm để đoạn trừ những tư tưởng và hành động bất thiện, phát triển lòng Bi mẫn để cứu giúp mọi người còn đang đắm chìm trong bóng tối vô minh. Bi tâm là mục đích của sự cứu khổ, chỉ rõ con đường tu tập, đây là khổ Thánh đế, đây là khổ Tập Thánh đế, đây là khổ Diệt Thánh đế và đây là con đường đưa đến khổ diệt. Cái khổ của chúng sanh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn Thánh, thật đúng là vô lượng khổ.

 - Khổ nằm trong nhân: trong các Kinh điển thường có câu: “Bồ Tát sợ nhân. Chúng sinh sợ quá”. Chúng sanh vì không sáng suốt cho nên khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chớ trong khi đang gây nhân khổ thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà không biết lại cứ cho là vui, vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ.

 - Khổ nằm trong quả: đã gây nhân khổ thì tất phải chịu quả khổ. Cũng như nói gieo gió thì gặt bão ấy là lẽ đương nhiên, thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế, người ta cứ mãi than trời trách đất cho rằng tạo hóa bất công làm cho cuộc đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm.

 - Khổ bao trùm cả thời gian: từ vô thỉ đến nay, cái khổ vẫn chưa bao giờ dứt mà cứ chồng chất thêm lên. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong vòng luẩn quẩn.

 - Khổ bao trùm cả không gian: cái khổ không có phương sở và quốc độ, ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ. Mà vô minh thì cứ như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới này, mà còn vô số vô lượng thế giới khác nữa. Khoảng không gian vô tận như thế nào thì nỗi khổ đau cũng vô tận như thế ấy.

 - Khổ chi phối cả phàm lẫn Thánh: chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ; loài người vì say đắm ngũ dục lạc và bị tham, sân, si chi phối nên vẫn bị quay cuồng lặn ngụp trong biển khổ. Còn chư Thiên mặc dù không khổ như loài người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. Cho đến các hàng Thánh như Thanh văn, Duyên giác vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch. Như thế đủ biết nỗi khổ thật lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi khổ đau vô lượng và có một chí nguyện cứu độ chúng sanh thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng ấy là Tâm Bi vô lượng.

 Thế nên các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng ra vào trong sanh tử để hóa độ chúng sanh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Các Ngài làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cuộc đời rõ thế nào là chánh tà, khổ vui. Nhận rõ được thân phận của mình mà không làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.

  Thế thì đủ biết lòng Đại Bi chính là động lực chính để đi đến quả Bồ Tát và Phật.

 Trong đại hội Hoa Nghiêm, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã nói: “Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng Đại Bi. Nhơn lòng Đại Bi mà phát tâm Bồ Đề. Nhơn phát tâm Bồ Đề tiến thành ngôi Chánh giác”.

 Nơi nào có Từ bi thì nơi ấy có hoa tình thương nở rộ trong lòng người. Từ bi không những là tình thương, là chất liệu cho sự sống, là khai phóng cho cuộc đời mà còn là sợi dây liên kết giữa người với người, giữa người với tất cả chúng sanh trong tình đồng loại, đồng thể tánh như nhau. Do đó, sẽ có đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong tình thân hữu, tình nhân loại, trong hòa bình, hạnh phúc, an vui vĩnh cửu trên hành tinh này. Như vậy, chúng ta góp phần không nhỏ vào sự củng cố nền hòa bình thế giới nói chung và con người nói riêng. Thực hiện Tâm Từ bi là chúng ta phát triển tâm bình đẳng Đại Bi, bình đẳng về Phật tánh. Do đó, tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật. Thành thử nếu sát sinh hại vật tức đoạn mất tâm Từ bi, đoạn mất giống Phật thì đó không thể thành Phật, không được giải thoát. Trái lại, phải bị luân hồi sanh tử đau khổ. Tại sao? Vì chính mình đã làm cho chúng sanh đau khổ. Cho nên, trong Kinh Pháp Cú có nói: “Trên thế gian này không phải hận thù trừ được hận thù, chỉ có tình thương mới xóa được hận thù. Đó là định luật nghìn thu”.

  1. Hỷ vô lượng

 Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là vui theo. Tâm Hỷ cũng là một đức tánh đưa nhân cách con người đến nơi cao thượng. Hỷ là sự vui mừng nhưng không phải trạng thái do thỏa mãn ngũ dục hay sự mãn nguyện của tình cảm riêng tư. Thông thường người thế gian thắng thì vui, thua thì khổ; vui trên đau khổ, trên nước mắt của kẻ khác. Hỷ vô lượng của Phật giáo không nằm trong phạm trù ấy; Tâm Hỷ là lòng vui phát sinh từ khả năng vui theo cái vui của người khác và ước mơ làm sao cho kẻ khác được an vui, mong kẻ khác được thành công và hạnh phúc. Cái vui mừng không làm cho ai khổ đau mà chỉ làm cho nội tâm trong sáng; chuyển hóa những khổ đau, tạo dựng một đời sống thoải mái nhẹ nhàng không phiền muộn, đem lại an vui hạnh phúc cho cuộc đời.

 Hỷ vô lượng không phải là niềm vui giả tạm, không phải là niềm vui trong mê lầm mà là niềm vui chân thật; niềm vui trong sáng của sự tỉnh thức, vượt thoát mọi sự ràng buộc khổ đau do tâm ganh tỵ và đố kỵ tạo nên. Hỷ vô lượng có năng lực phá tan lòng ganh tỵ và ích kỷ. Người có Hỷ tâm vô lượng luôn luôn ca ngợi và tán dương sự thắng lợi và sự thành công của tha nhân; không khởi tâm đố kỵ làm trở ngại sự tiến bộ, sự phát triển của tha nhân mà sẵn sàng dung nạp niềm vui chung của mọi người; không phân biệt oán thù thân thương, chủng tộc, giai cấp, tôn giáo và ý thức hệ.

 Thực hiện Hỷ tâm vô lượng để giải phóng tư tưởng ganh tỵ, hẹp hòi . Tu tập Hỷ tâm vô lượng không lấy lạc thú thế gian làm nguồn vui chân thật mà phải nỗ lực chuyển hóa được nội tâm mình, phá vỡ được những tham ái và ganh tỵ trong tâm thức vì ganh tỵ là một động lực thúc đẩy con người dấn thân vào hành động sai lầm. Nó có sức mạnh tàn phá thân tâm con người, đó là kẻ thù trực tiếp của Hỷ tâm vô lượng. Muốn có niềm vui trọn vẹn trong đạo lý giác ngộ phải vượt thoát bản ngã thấp hèn, sống trong sạch và cao thượng. Đây là Hỷ tâm vô lượng của Đạo Phật.

 Thế nên, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Nếu làm cho chúng sanh được vui; tức là làm cho tất cả chư Phật vui mừng”.

 Do đó, Bồ Tát chẳng những không làm cho chúng sanh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê của chúng sanh tỉnh giác và được giải thoát. Không còn bị ràng buộc trong vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian. Thoát khỏi phạm vi tự lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sanh.

 Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi, lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì tâm Hỷ cũng rộng lớn như thế.

  1. Xả vô lượng

 Xả là bỏ, là không chấp, không kể. Tâm Xả là tâm đức trong sáng giúp con người kiện toàn nhân cách cao thượng. Thói thường khi chúng ta làm điều gì được kết quả tốt thì hay tự hào, đôi khi ngạo nghễ, khó chịu. Phàm phu vừa thấy mình làm là “chấp ngã”, vừa thấy công việc làm là “chấp pháp” nên bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhơn, ngã, bỉ ,thử và do đó không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu.

 Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu Dư Y Niết bàn; các Ngài coi đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh sở đắc ấy. Thế nên, xả ở đây không hàm chứa ý nghĩa sự buông bỏ lạnh lùng, cũng không phải là một cảm giác trung tính khi đối diện với hạnh phúc và khổ đau. Tu tập lòng Xả là tâm niệm thanh thoát, cởi mở tất cả những sự ràng buộc, bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt đối xử thương cái này ghét cái kia, đối trị lại tâm chấp thủ, luôn luôn quán chiếu về tự thân để thấy sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn là khổ là không, là vô thường để thoát ly mọi sự luyến ái; thoát ly cái thấy phân biệt, đạt được sự thấy không phân biệt; chứng ngộ được tự tánh không của các pháp, xa lìa mọi chấp thủ.

 Trong thế gian có bốn điều phước lành và bốn điều bất hạnh chi phối toàn bộ đời sống con người đó là: được và thua, danh thơm và tiếng xấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và khổ đau. Đây là sự đối đãi thăng trầm trong cuộc sống; người tu tập tâm Xả phải luôn giữ tâm bình thản “Cũng như trên đất, dù người ta đổ lên đất những thứ tinh sạch như bông hoa thơm hoặc những thứ nhơ bẩn đất vẫn tiếp nhận tất cả một cách thản nhiên, không giận cũng không thương”.

 Cảm thọ khoái lạc và sầu khổ phát sanh không nhiễu loạn được người tu tập Xả tâm vô lượng. Người có Xả tâm vô lượng không hân hoan trong hạnh phúc, không phiền muộn trong khổ đau. Như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vẫn tỏa ngát hương thơm, vượt lên mọi cám dỗ khoái lạc của thế gian; tâm không dao động, sống trong sạch tinh khiết, chứng đạt Tri kiến thanh tịnh. Nhờ Tri kiến này thấy được thật tướng của các pháp không có tự tánh chỉ do nhân duyên sanh khởi. Nên các pháp luôn luôn sanh diệt vô thường, không khởi tâm tâm chấp thủ và luyến ái. Sống tri túc để nghĩ đến tha nhân. Xả bỏ những tài vật bên ngoài giữ tâm trong sạch.

 Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả. Ở đó không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đều bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả, nói mà không thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và không có quả để chứng .

 Cho nên trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành mới là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu”. Lý hội nghĩa ấy là gần với Đạo, mê mờ không rõ là xa Đạo. Làm được như thế tức là xả, xả hết tất cả mới thật là Bồ Tát. Nếu còn chấp một tướng gì dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ Tát. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy Ông Tu Bồ Đề: “Này, Tu Bồ Đề! Nếu vị Bồ Tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thời chẳng phải là Bồ Tát”.

     III. Sự đối trị của bốn món Tâm vô lượng

  Bốn món Tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những người Phật tử tu hành Bồ Tát hạnh.

 Trong mỗi con người đều có hai xu hướng thiện và ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, ác thắng thì thiện lùi. Khi tâm sân bừng dậy thì tâm Từ bi che khuất. Khi lòng giận khởi lên thì tâm Bi bị lấn át. Khi ưu não dẫy đầy thì tâm Hỷ không phát hiện. Khi lòng ái dục còn nặng nề thì tâm Xả không sanh. Trái lại, khi tâm Từ lan rộng thì lòng sân phải mòn, khi tâm Bi lớn mạnh thì lòng hận phải lui. Khi tâm Hỷ bừng lên thì lòng ưu não phải dẹp xuống. Khi tâm Xả phát triển thì lòng ái dục nhẹ đi.

 Do đó, sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng nghỉ. Trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến khi toàn thắng mới dừng.

C. KẾT LUẬN

    Giáo pháp là chiếc bè đưa người sang sông nhưng chiếc bè không phải là bờ bên kia. Sử dụng những giáo pháp này để đi tới giải thoát nhưng không nên vướng mắc vào những giáo pháp ấy. Giáo pháp là phương tiện chỉ bày chân lý. Nên nói: “Nhứt thiết Tu Đa La như tiêu nguyệt chỉ”, nghĩa là tất cả giáo điển của Đức Phật như ngón tay chỉ mặt trăng, chúng ta chỉ mượn ngón tay để thấy mặt trăng chứ ta không nên cho ngón tay là mặt trăng, không nên nắm giữ phương tiện làm cứu cánh “Chánh pháp còn cần được buông bỏ huống hồ là phi pháp”.

   Đó là hành tướng của bốn món Tâm vô lượng hay của bốn đức: đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả. Chúng ta là người xuất gia phải chú trọng vào bốn Tâm vô lượng để thực nghiệm sống và quán chiếu sự sống; nuôi dưỡng lòng Từ, phát triển tình thương và sự hiểu biết để xây dựng cuộc sống tốt đẹp. Bốn Tâm vô lượng này sẽ giúp con người trở nên hoàn thiện, nếu mọi người sống tu tập theo bốn Tâm vô lượng thì thế gian này khổ đau sẽ biến thành thiên đường nơi trần thế tất cả mọi người đều được sống an vui, hạnh phúc trong tình thương bất diệt, đem lại sự lợi ích cho mình và tha nhân. Phục vụ và phụng sự cho lý tưởng giải thoát, tạo được nguồn sống an vui dựa trên nền tảng bốn Tâm vô lượng.


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 479
Tổng truy cập: 690.900
Số người đang online: 37