Top

tin tuc ngay nay

Ý nghĩa Phật đản

Thứ 4 | 10/03/2021
Chính đức Phật đã từng tuyên bố với hoài bão lớn nhất của Ngài là xây dựng nếp sống hạnh phúc an lạc cho mọi người ngay khi Ngài vừa thị hiện: "Ta ra đời vì sự lợi ích, vì hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài người".

 

             BÀI 1

 

A. DẪN NHẬP

Để mở đầu cho một kiếp người là sự ra đời của một sanh mạng. Tuy nhiên, tùy theo sự ra đời của một người như thế nào là còn tùy thuộc vào nghiệp thức của người đó. Có sự ra đời đem lại sự vui mừng, hân hoan cho một gia đình, như một người cháu đích tôn sanh ra trong một dòng họ hiếm con. Hoặc sự ra đời đem lại đau khổ buồn phiền cho gia đình và xã hội nếu đó là một người con nghịch tử, bất hiếu. Và có sự ra đời đem lại cho nhân loại một kho tàng tri thức và đạo đức như các đức Lão Tử, Khổng Tử. Và đức Phật – Ngài ra đời trong niềm vui mừng, hân hoan chào đón của toàn Chư Thiên và loài người. Bởi chính sự ra đời của Ngài đã thật sự đem lại an lạc, giải thoát cho nhân loại. Đây thật là một sự ra đời có giá trị và đáng quý trọng hơn tất cả bao nhiêu sự ra đời khác.

Chính đức Phật đã từng tuyên bố với hoài bão lớn nhất của Ngài là xây dựng nếp sống hạnh phúc an lạc cho mọi người ngay khi Ngài vừa thị hiện: "Ta ra đời vì sự lợi ích, vì hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài người". Và sự ra đời của đức Phật được gọi là gì và có ý nghĩa như thế nào chúng tôi sẽ đến với quý vị qua buổi chia sẻ giáo lý với đề tài về “Ý Nghĩa Phật Đản” sau đây.

B. NỘI DUNG

        I. ÐỊNH NGHĨA

Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng đến những từ như: Đản sanh, Thị hiện hoặc Giáng sanh.

Đản Sanh: nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời.

 Thị Hiện: nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được.

Giáng Sanh: nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra.

Ba chữ ấy đều có 3 ý nghĩa khác nhau: Chữ Đản Sanh dùng để ca tụng một bậc tôn quí ra đời; chữ Thị Hiện hàm cái ý Phật bao giời cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ Giáng Sanh hàm cái ý đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này.

Ba chữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của đức Phật. Trái lại, khi một người phàm ra đời thì gọi là “đầu thai”. Ðầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ. Còn đản sanh, Giáng Sinh hay Thị Hiện thì không hàm cái nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng Từ Bi, muốn làm lợi ích cho chúng sanh, nên tự nguyện ứng thân xuất hiện ra đời trong một thời gian để cứu độ chúng sanh; xong rồi thì thâu thần tịch diệt, tự tại vô ngại ra ngoài sống chết.

Ngày Phật Đản hay còn gọi là Quán Phật Hội tức là ngày Hội Tắm Phật hoặc Giáng Đản Hội tức là Hội Giáng Sinh. Đó là nói chung về nghi thức tắm Phật vậy.

     II. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA ĐỨC PHẬT

Võ Đình Cường đã dùng lời văn của mình để ca ngợi Đức Thế Tôn xuất thế như sau:

Nhân loại ơi! Có hay chăng một vị Giác Ngộ mới ra đời?

Chúng sanh ơi! Một đấng Đại từ, Đại bi, Đại trí, Đại đức vừa xuất hiện ở dưới trần!

Ôi hân hoan, hân hoan cho toàn cả mấy tầng trời, vì chúng sanh ơi, một đóa hoa Đàm nở, một ánh sáng lạ chói ngời!

Này ai ơi! Hãy đi về phía nam dãy núi Hy-mã-lạp-sơn, vì chính ở đấy đã ra đời một đức Phật.

          1. Bối cảnh xã hội Ấn Độ đương thời

Khi nói đến điểm xuất phát của đạo Phật, không thể không đi sâu vào bối cảnh lịch sử của đất nước Ấn Độ đương thời. Đức Phật ra đời trong bối cảnh lịch sử xã hội Ấn Độ bấy giờ chia ra 4 giai cấp rõ rệt. Giai cấp Bà-la-môn là trên hết, kế đến là Sát-đế-lợi, Phệ-xá (Vệ Xá) rồi Thủ-đà-la. Sự phân biệt giai cấp và các hệ lụy của nó đã gây ra những khổ đau cùng cực cho con người.

Trước thời Đức Thế Tôn ra đời, về tư tưởng tôn giáo, triết học cũng như về mặt chính trị, kinh tế và xã hội thật vô cùng phức tạp. Chính trị lẫn tôn giáo đã ấn định nhiều sinh hoạt đầy bất công trong xã hội và góp phần đưa hai giai cấp thống trị Brahmana (tăng lữ Bà La Môn) cùng Ksatriya (Sát Đế Lỵ - vua quan) lên làm chủ. Hai giai cấp thuộc hàng tiện dân, bị xã hội khinh miệt, không được luật pháp bảo hộ, không được dự chung phần tín ngưỡng và tán tụng kinh điển Veda (Phệ Đà), đó là hai giai cấp Vaisya (Phệ Xá) và tệ hơn nữa là Sùdra (Thủ Đà La). Điều này tạo ra một sự bất công trong xã hội ấn Độ lúc bấy giờ.

Sự xuất hiện của Đức Phật như một vầng thái dương xua tan mọi bóng tối của sự bất công, đem lại sự tự do bình đẳng cho toàn thể nhân loại nói chung và cho xã hội ấn Độ nói riêng. Và vì lòng từ bi, Ngài ra đời cốt để vạch cho chúng sanh một con đường cao quý, ý nghĩa hơn so với kiếp sống mong manh hiện tại.

Xét về mặt xã hội thì trước Đức Phật giáng sinh gần 100 năm, trước Tây lịch khoảng 7 thế kỷ, đạo Bà La Môn thịnh hành đến cực điểm. Nhưng cũng do sự độc quyền của tăng lữ mà đạo đức tôn giáo thời đó chỉ có nghi thức phô trương bề ngoài. Do chế độ giai cấp nên cuộc sống xã hội không công bằng, nhân dân không được tự do, mà tư tưởng yếm thế nảy sinh, nạn mê tín hoành hành trong xã hội. Ở một phương diện khác, xã hội đã phát sinh tư tưởng hoài nghi, phủ nhận tất cả những giá trị tôn giáo, nhân quả và đạo đức. Họ cổ xúy tư tưởng Khoái lạc, Ngụy biện, Khổ hạnh, Hoài nghi... tiếp tục nổi lên.

Sống dưới một xã hội có thể chế giai cấp đầy bất công; tư tưởng tôn giáo lại rối ren như thế, con người không còn biết tin tưởng, bám víu vào đâu. Giữa hoàn cảnh bế tắc ấy, Đức Phật xuất hiện như một mặt trời sáng ấm buổi ban mai, làm tan đi bóng tối của đêm đen dày đặc đã từ lâu che phủ cuộc đời. Ngài không chỉ là cứu tinh cho xứ Ấn Độ thời bấy giờ, mà còn là người vạch ra hướng đi mới của nhân loại. Đức Phật là người đầu tiên xướng lên thuyết Nhân bản, lấy con người làm cứu cánh để giải quyết hết mọi vấn đề bế tắc của thời đại. Cuộc đời Ngài là một sự biểu hiện của biển lớn Trí tuệ và Từ bi, là ánh sáng, là con thuyền, là niềm tin cho mọi người, mọi xã hội ở bất cứ thời gian và không gian nào.

         2. Nguyên nhân Bồ Tát Hộ Minh giáng thế

Ma Da hoàng hậu ngủ say

Nằm mơ chợt thấy sắc mây rạng ngời

Một luồng ánh sáng từ trời

Lung linh chiếu xuống tận nơi giường bà

Trong hào quang bỗng hiện ra

Voi to, màu trắng, sáu ngà đẹp thay,

Voi và ánh sáng cùng bay

Tới gần hoàng hậu nhập ngay vào bà.

Sáng hôm sau tỉnh giấc ra

Trong lòng hoàng hậu chan hòa niềm vui

Căn cứ theo Kinh Phật Bản Hạnh, thì đức Phật đã nói diễn biến cuộc đời  mình qua “Bát Tướng Thành Đạo”. Nguyên lai là Bồ Tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất, vì lòng từ bi thương tưởng đến nhân loại đang khổ đau và cũng vì hạnh nguyện độ tha của mình nên Ngài đã thị hiện nhập thai nơi Hoàng hậu Ma Gia.

Truyện kể rằng: Tại một vương quốc nhỏ ở phía Bắc Ấn Ðộ, Một hôm vào lễ vía Tinh Tú, vua Tịnh Phạn mở tiệc vui chơi trong thành Ca-tỳ-la-vệ. Sau khi dâng hương hoa cúng kiến trong cung điện xong, Hoàng Hậu Ma-Da cùng gia đình ra ngoài thành để bố thí thức ăn và quần áo cho dân nghèo. Khi trở về cung an giấc, Bà mơ thấy một luồng ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống thân thể mình, theo luồng ánh sáng này là một con voi trắng sáu ngà từ trên không trung bay xuống và sau đó lấy ngà khai hông bên hữu của bà mà chui vào. Lúc bấy giờ bà nghe trong người bỗng nhiên thật thanh thoát, nhẹ nhàng, chẳng còn biết sầu lo oán hận gì cả. Hoàng Hậu bèn đem điềm chiêm bao này thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe, vừa nghe xong, nhà vua lấy làm lạ bèn cho mời các nhà tiên tri lỗi lạc đến để đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng: “Hoàng Hậu sẽ sanh ra một quý tử có tài đức song toàn”. Nghe điều này, Vua Tịnh Phạn rất vui mừng, vì từ nay ngôi báu đã có người truyền thừa.

Qua điều này cũng cho ta biết, nếu một người chuyên làm việc bố thí, thực hành hạnh lợi tha, thì gặp được những duyên may, phước lành sẽ đến với họ. Hoàng hậu Ma Da và vua Tịnh Phạn cũng vậy, nhờ phước lành biết bố thí cúng dường, ăn hiền ở lành nên đã hạ sanh được quý tử mà sau này làm một bậc thầy khắp cả trời người.

          3. Ngày Phật đản sanh

Hoàng Hậu Ma Da mang thai đến thời khai hoa nở nhụy, theo tục lệ thời bấy giờ, Hoàng hậu phải trở về quê cha là trưởng giả Anjana ở nước Koly (Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên quãng đường đi, Hoàng hậu Màyà vào vườn Lumbini thưởng ngoạn mùa hoa đang đua nở. Bên tàng cây Vô Ưu che rợp mát, sắc màu tươi sáng, hương thoảng nhẹ bay, Hoàng hậu đưa cánh tay vin lấy cành hoa Vô Ưu thì hạ sanh Thái tử Tất Đạt Đa. Tin lành Thái tử chào đời nhanh chóng được loan truyền trong dân chúng. Tất cả thần dân trong vương quốc đều vui mừng không xiết kể. Thái tử ra đời đúng với ý nghĩa: “Một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.”

“Nhè nhẹ tay trên níu lấy cành,

Nhiệm màu hương ngát tỏa hồn thanh,

Trời rung đất chuyển trăm điều lạ,

Hớn hở chào mừng Thái tử sanh”.

Ngày Đản sanh Thái tử, khắp xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cối xanh tươi, sông ngòi mương giếng trong đầy, chim chóc reo vang, hào quang tỏa khắp. Lúc ấy khắp địa cầu tràn ngập niềm an lạc và hạnh phúc. Mọi người quên hết lo âu, xóa mọi hận thù, thương yêu lẫn nhau. Đó là ngày hội của toàn vương quốc.

Thái tử giáng sinh vào ngày trăng tròn tháng tư (tức mồng 08 tháng 04) năm 624 BC tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), cách thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) khoảng 15 cây số. Người là con của vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Gia.

      III. Ý NGHĨA VỀ NHỮNG BIỂU TƯỢNG KHI PHẬT ĐẢN SANH

             1. Ý nghĩa voi trắng 6 ngà

Sáu ngà là tiêu biểu cho pháp Lục Độ, nghĩa là Bồ Tát Hộ Minh theo hạnh nguyện của mình, giáng thế để cứu độ chúng sanh đang trầm luân trong sanh tử. Khi một vị Bồ Tát sống trong cõi đời thì các Ngài đều thực hành hạnh nguyện Lục Độ Ba La Mật, nên qua giấc chiêm bao bạch tượng sáu ngà của Hoàng Hậu Ma Da là điềm báo trước sẽ có một vị Bồ Tát giáng thế để cứu độ chúng sanh.

            2. Ý nghĩa của 2 dòng nước và lễ tắm Phật

Theo truyền thuyết, ngay khi Thái tử Tất Ðạt Ða Đản sanh, có 9 con rồng đến phun nước tắm cho Thái Tử, biểu tượng rồng ở đây tức đại diện cho nền triết lý thiên mệnh, là biểu trưng cho sự thiêng liêng thù thắng. Cho nên có câu:

Vườn Lâm Tỳ Ni, bảy bước xưng tôn cùng vũ trụ

Nước Ca Tỳ La, chín rồng tắm Phật cõi Ta Bà.

Nhưng có thuyết khác lại nói là có hai vị Long vương đến phun hai dòng nước tắm cho Thái tử; một vị phun dòng nước lạnh và một vị phun dòng nước nóng. Hai dòng nước lạnh và nóng tượng trưng cho hai cảnh giới thuận và nghịch của cuộc đời, hai cảnh giới vui buồn, sướng khổ của cuộc sống hằng ngày mà tất cả mọi người sanh ra trên thế gian này đều phải chịu đựng. Thái tử Tất Ðạt Ða đã chịu đựng được hai dòng nước lạnh nóng, cho nên sau này Ngài trở thành Ðức Phật Thích Ca. Ðức Phật dạy rằng: “Người nào chịu đựng được những sự thuận nghịch của cuộc đời, mà tâm vẫn bình thường, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên tự tại, thì người đó sẽ là một vị Phật trong tương lai”. Ðây chính là ý nghĩa hết sức thâm sâu vi diệu của đạo Phật vậy.

Những cảnh thuận nghịch của cuộc đời được gọi là: bát phong. Bát là tám, phong là ngọn gió. Bát phong chia làm bốn cặp, mỗi cặp gồm hai cảnh giới đối nghịch, đó là: lợi và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc. Lợi là những điều thuận lợi, đem lợi lộc, tài lợi đến cho con người. Suy là suy tàn, suy sụp, đem đến sự thua lỗ, mất mát cho con người. Cả hai điều này đều làm cho tâm của con người dao động, bất an. Hủy là hủy báng, chê bai làm cho tâm con người bị động. Dự là danh dự, khen tặng cũng làm cho tâm con người bị dao động. Kế đến là xưng và cơ, xưng nghĩa là xưng tán, tán tụng, nói tốt. là bài bác, chỉ trích, nói xấu. Khổ là những cảm giác khó chịu như lo lắng, buồn rầu, sợ hãi, … lạc là vui vẻ, tức là những điều như ý, sự thỏa mãn….Hai ngọn gió này của cuộc đời cũng làm cho tâm con người bị dao động. Bát phong nói chung chính là những khổ nạn và lạc thú trên trần gian vậy.

Trong lúc làm lễ tắm Phật, khi múc gáo nước đầu tiên tắm lên vai phải tôn tượng Ðức Phật Đản sanh nhỏ nhắn, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp thuận cảnh, phải lòng, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên. Khi múc gáo nước thứ hai tắm cho vai trái tôn tượng Ðức Phật, chúng ta cũng tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp nghịch cảnh, trái lòng, vẫn phải bình tĩnh thản nhiên. Việc làm này mang nhiều ý nghĩa vi diệu, có ích lợi lớn cho việc tu học, có thể chuyển hóa tâm trạng của con người từ phiền não khổ đau thành an lạc và hạnh phúc. Ðây chính là ý nghĩa sâu xa của nghi lễ tắm Phật vậy.

         3. Ý nghĩa Phật đản sanh dưới cây hoa Vô Ưu

Vô ưu, Phạn ngữ Asoka, Hán ngữ phiên âm A du ca, A thúc ca, A thuật ca… dịch nghĩa là Vô ưu hoa, hoa không ưu tư phiền muộn. Hoa Vô Ưu hay cũng còn gọi là hoa Ưu Đàm.

Hoa Vô Ưu, theo quan niệm của Phật giáo là một loài hoa linh thiêng, cực kỳ quý hiếm “ba ngàn năm mới nở một lần” nên mang ý nghĩa hy hữu, hiếm có, khó gặp. Mặt khác, hoa Vô Ưu nở là điềm lành báo hiệu Đức Phật ra đời hoặc có một bậc Luân Vương xuất thế.

Theo kinh Pháp Hoa văn cú: "Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời". Do đó, Hoa Ưu Đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của Đức Thế Tôn, mà trong một số kinh khác của nhà Phật có ghi như : Tạp A Hàm (26), Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (171), Kinh Hoa Nghiêm bản tân dịch (80), Kinh Tô Yết Địa Tất La, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (3), Pháp Hoa Văn Cú (4), Huyển Ứng Âm Nghĩa (21), Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Pháp Hoa chương 2 và 27…

Hình ảnh Thái tử đản sanh dưới gốc cây Vô Ưu là với ý nghĩa là mặc dù Ngài sinh ra đời và sống trong cõi đời ngũ trược nhưng tâm của Ngài đã hoàn toàn an lạc, giải thoát, không còn vướng bận bất cứ thứ gì. Và cũng chính sự ra đời của Ngài cùng với chân lý giải thoát được chuyển tải qua hệ thống giáo lý cũng đã đem đến nguồn an lạc, giúp cho mọi người không còn ưu phiền nữa.

           4. Ý nghĩa hoa sen và bảy bước chân

Hoa sen là biểu trưng cho sắc thái rất thuần túy trong lúc Phật Đản sanh, còn các loại hoa khác thì không. Dẫu biết rằng hoa nào cũng sinh ra từ lòng đất, nhưng mỗi loài hoa có một nét đẹp riêng. Riêng hoa sen có 5 đặc tính chiếm tối ưu hơn các loài hoa khác.

1. Hoa sen từ trong bùn nhơ nước đục ngoi lên, nhưng không vì thế mà khiến nó bị phai nhạt hương sắc thanh cao. Với đặc tính này cho chúng ta thấy đức Phật tuy sống trong cõi đời ô trược nhưng không vì thế mà bị nhiễm ô hay mất đi bản tâm thanh tịnh. Ngài “cư trần mà bất nhiễm trần”.

2. Hoa sen vừa tượng búp đã có ngay quả, quả bọc trong gương sen, nên hoa quả đồng thời kết thành và phát triển một lượt. Ý nói là nhân quả đồng thời, trong nhân đã chứa sẵn mầm móng của quả. Ý nói trong mỗi con người đều có sẵn Phật tánh bình đẳng chơn như.

3. Hoa sen không bị các loài sâu bọ, ong bướm quấy nhiễu. Ý nói đức Phật không bị các thứ về ngũ dục, lục trần lôi cuốn.

4. Hàng nữ giới không lấy hoa sen làm đồ trang sức.

5. Từ lá, gốc, rễ, thân, cành, kể cả mần tiềm tàng nằm sâu bên dưới, không có một thứ nào là vô dụng trong ý nghĩa thực phẩm.

            Sự xuất hiện của Đức Phật trên hoa Sen cũng để nói cho chúng ta thấy rằng, cái chết là bắt đầu của sự sống, sự sống ở đây cũng chính là bắt đầu cho cái chết. Sự xuất hiện cũng có nghĩa là bắt đầu của một sự ẩn khuất. Như đức Phật Thích Ca, Ngài ẩn khuất ở nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng thì Ngài có mặt ngay nơi thế giới Ta Bà này.

Một đặc điểm khác nữa của hoa Sen là Hoa nở Sen hiện. Nghĩa là, Đức Phật dạy giáo pháp của Ngài, nếu chúng ta quyết tâm hành trì, thì sẽ có an lạc ngay, đó là “Hoa nở Sen hiện”! Tu là có hạnh phúc.

Hoa Sen có những đặc tính tối ưu như thế, nên trong bài kệ số 58 Kinh Pháp Cú đã ca ngợi rằng:

“Từ vũng bùn ô uế,

Vứt bỏ bên lề đường,

Một đóa Sen xuất hiện,

Làm đẹp ý mọi người”.

  Cũng giống như hoa Sen, trong Kinh Pháp Cú số 59 Đức Phật lại dạy:

“Từ vũng bùn sinh tử,

Phiền não của thế gian,

Bậc thánh trí xuất hiện,

         Làm lợi lạc quần sinh”

Hoa sen là biểu trưng cho sự thanh khiết. Như một bậc tu hành đi vào danh mà không bị danh làm cho ô nhiễm, đi vào trong lợi mà không bị lợi làm ô nhiễm. Vị đó đi vào trong những thứ cám dỗ của cuộc đời mà không bị những thứ đó làm chi phối. Tất cả những thứ ô nhiễm không trói buộc được một vị chân tu, đó là biểu tượng cho hoa Sen. Hoa Sen là vô nhiễm, là không còn mắc kẹt bởi nước, bởi bùn, mặc dù hoa Sen từ bùn, từ nước mà lớn lên và trưởng thành. Cũng như một vị tu hành từ trong những thứ ô nhiễm của cuộc đời mà đạt được sự giải thoát, lìa cuộc đời ô trược này thì không thể tìm được sự giải thoát. Cho nên nói “Phật pháp bất ly thế gian giác”.

Khi thành đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ðức Phật ngồi trên thảm cỏ, nhưng trong hình vẽ tôn tượng, Ðức Phật đều ngồi trên tòa sen. Qua biểu tượng đó cho ta thấy hoa sen là tượng trưng cho sự thanh khiết, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Cho nên, đức Phật vẫn sống trong trần đời đầy dẫy các điều hệ lụy, bất an, bất như ý, mà chẳng cảm thấy phiền não khổ đau! Ngài đã dạy cho chúng ta thấy rõ, tất cả mọi chúng sanh đều có bản tâm thanh tịnh, đều có Phật tánh chơn như, cho nên đều có thể trở thành một vị Phật, nếu biết thực hành pháp môn tu tâm dưỡng tánh.

Bản tâm thanh tịnh trong kinh sách Phật giáo được gọi với nhiều danh từ khác nhau, chẳng hạn như là: chân ngã, chân tâm, chân tánh, Phật tâm, Phật tánh, bản lai diện mục, v.v.

  • Ý nghĩa về con số 7

Số 7 còn tiêu biểu cho tứ quả Thanh Văn và Tam Thừa là Thanh Văn Duyên Giác và Phật Thừa.

Theo tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ nhân sinh từ vật nhỏ như vi trần đến vật to lớn như núi Tu Di, tất cả không ngoài con số 7:

- Thất đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức

- Thất thánh tài: tín, tấn, giới, tàm quý, văn, xả, huệ

- Thất chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thức-xoa-ma-na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di.

- Thất Phật: Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp và Phật Thích-ca.

Ngoài ra, 37 phẩm trợ đạo cũng chia làm 7 khoa: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần Và Bát Chánh Đạo.

Vậy, con số 7 tượng trưng cho sự sinh hóa cả vũ trụ, ngay cả sự sống chết của con người như lập đàn Dược sư thất bảo để cầu an hay tổ chức thất thất trai tuần để cầu siêu cũng dùng đến nó. Vì thế, con số 7 mang ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nhân sinh quan, vũ trụ quan qua tầm nhìn Phật giáo.

  • Ý nghĩa 7 bước chân

Bồ Tát Tất Đạt Đa khi sanh ra, chân vừa chạm đất liền đi 7 bước.

- Bước thứ nhất: Đi bước chân thứ nhất, nhìn về phương đông, Ngài nói: “Thị Đông phương, vị chúng sanh vi đạo thủ cố”. Nghĩa là nhìn về phương đông, vì chúng sanh làm người thầy dẫn đường tối thượng.

          Phương đông là phương mặt trời mọc để phát ánh sáng đến khắp thế gian. Đây là dụ cho trí tuệ sáng suốt ở nơi mỗi chúng sanh. Đức Phật khi đản sanh với bổn nguyện khai mở trí tuệ để chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật của chính mình, nên trong kinh Pháp Hoa có nói: “Đức Phật ra đời vì một nhân duyên lớn, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.      

- Bước thứ hai: Đi tiếp bước chân thứ hai, nhìn về phương Nam Ngài nói: “Thị Nam phương, vị chúng sanh tác lương phước điền cố”. Nghĩa là nhìn về phương Nam, vì chúng sanh làm ruộng phước tốt.

Đức Phật là con người tối tôn tối thượng, nhờ công hạnh tu tập nhiều đời nhiều kiếp nên Ngài có đủ phước đức và trí tuệ, nên được người đời tôn xưng là bậc Đại Giác Lưỡng Túc Tôn. Ngài thấy rằng nếu chỉ có trí tuệ mà thiếu phước đức hoặc có phước đức mà thiếu trí tuệt thì cũng như con chim chỉ có một cánh không thể bay được. Nếu chúng sanh chỉ biết tu huệ mà không tu phước thì khó mà có niềm an lạc nơi thân để tiếp tục tu hành cho đến khi thành đạt được quả vị Phật. Trong quá trình tu tập hạnh Bồ Tát với pháp tu Lục Độ Ba La Mật, Ngài đã thực hành Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục.v.v... Trong kinh nói Ngài đã bố thí tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, mắt tai mũi lưỡi.v.v… đúng với nghĩa là tam luân không tịch thì Ngài mới có đầy đủ phước đức và trí tuệ vô lượng vô biên để làm ruộng phước an lành cho tất cả chúng sanh gieo hạt giống phước đức.

          - Bước thứ ba: Đi tiếp bước chân th ba, nhìn về phương Tây, Ngài nói: “Thị Tây phương, vị chúng sanh dĩ tối hậu thân cố”. Nghĩa là nhìn về phương Tây, vì chúng sanh làm thân cuối cùng vậy.

Phương Tây là biểu hiện của sự yên ngh lặng lẽ. Thân cuối cùng của đức Phật sẽ đi vào Niết Bàn sau khi chánh Pháp đã có người truyền thừa. Tuy hình thể trang nghiêm với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đã đi vào cõi vô sanh bất diệt, nhưng những viên ngọc xá lợi vẫn luôn ngời sáng trong lòng của nhân loại để họ gieo phước cúng dường.  

          - Bước thứ tư: Đi tiếp bước chân thứ tư, nhìn về phương Bắc, Ngài nói: “Thị Bắc phương, vị chúng sanh, Ngã đắc A nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề ”. Nghĩa là nhìn về phương Bắc, Ngài nói vì chúng sanh mà chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

          Trên lộ trình tu hành Bồ Tát đạo, với trí tuệ của mình Ngài thấy rằng Tâm của Phật và chúng sanh vốn không sai biệt. Tuy nhiên, muốn đạt đến chỗ cứu cánh giải thoát phải dẹp bỏ cái ngã ích kỷ hẹp hòi để đi đến chân ngã, phải thực hành Lục Độ Ba La Mật rốt ráo như Bồ Tát Địa Tạng là: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề ”. Nhưng không dừng lại ở địa vị Bồ Tát mà cần phải tiếp tục hạnh nguyện lợi tha cho đến khi đạt đến Nhứt Thừa Phật Quả mới thôi. Với tình thương vô lượng vô biên, Ngài vì tất cả chúng sanh mà tu hành để đạt đến quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

- Bước thứ năm: Đi tiếp bước chân thứ năm, nhìn về phương dưới, Ngài nói: “Thị Hạ phương, vị chúng sanh nhi hàng phục ma cố”. Nghĩa là nhìn về phương Dưới, vì chúng sanh hàng phục các loài ma.

          Phương dưới là nơi u tối vì không có ánh sáng của mặt trời chiếu soi đến được, nên rất đáng sợ. Đây còn dụ cho cõi lòng của chúng sanh đầy dẫy phiền não chướng và sở tri chướng, lại thêm thế lực ngoại ma ở bên ngoài dụ dỗ quá mạnh nên đã che lấp đi trí tuệ quang minh ở tự tâm. Ngài phát nguyện tu hành vì tất chúng sanh mà hàng phục tất cả ma chướng này. Đây là quá trình Bồ Tát tu tập xả bỏ tất cả chấp trước nơi thân tâm và ngoại cảnh, để thành tựu Tứ Vô Lượng Tâm (từ, bi, hỷ, xã). Khi đã thành tựu bốn tâm vô lượng này thì mới có đủ sức mạnh và trí tuệ để dẹp trừ ma chướng và làm thầy dẫn đường cho tất cả chúng sanh. Cho nên, đức Phật thấy rằng phiền não ở nội tâm và ngoại cảnh là ma chướng làm não loạn và gây khổ đau cho chúng sanh. Cho nên, sau khi thành Phật, Ngài đã thuyết giảng giáo lý trong suốt thời gian 49 năm, nhằm giúp cho chúng sanh nương theo đó tu tập để diệt trừ các thứ ma phiền não để đạt đến cứu cánh giải thoát.

          Là đệ tử Phật, chúng ta hãy đi theo bước chân của đấng Từ Phụ là quán chiếu vào nội tâm đễ thấy rõ sự sanh diệt và làm chủ tâm trước khi phiền não dấy khởi. Khi sự quán chiếu được miên mật thì định lực phát sanh, trí tuệ hiển bày. Khi có trí tuệ chúng ta sẽ không bị vướng mắc vào những thứ phiền não ma chướng quấy rối, cuộc sống luôn tự tại và an vui.

          - Bước thứ sáu: Đi tiếp bước chân thứ sáu, nhìn về phương Trên, Ngài nói: “Thị Thượng phương, vị chúng sanh, Quy y thiên nhân cố”. Nghĩa là Nhìn về phương Trên, vì chúng sanh làm nơi nương tựa của trời, người.

          Với trí tuệ sáng ngời Ngài thấy rằng chúng sanh tuy Phát tâm tu hành, dùng trí tuệ Bát Nhã quán chiếu dẹp trừ ma chướng, nhưng nếu không có nơi nương tựa (quy y) cũng giống như đứa con thơ xa rời vòng tay âu yếm của cha mẹ, đời sống sẽ gặp rất nhiều khổ não, tương lai sẽ không biết về đâu?

          Đức Phật đã vì chúng sanh mà hàng phục ma chướng. Nhưng chúng sanh nghiệp chướng không đồng, người thì căn tánh đã thuần thục, kẻ lại mới phát tâm tu. Nếu không có nơi nương tựa và hướng đến, khi những bước chân đã mỏi mệt trên hành trình sanh tử thì đức Từ Phụ sẽ là nơi nương tựa cho họ, tiếp thêm năng lực cho họ, để họ có thêm nghị lực để đi đến thành trì Niết Bàn an lạc. Sự tu hành cũng vậy, có lúc thì phát tâm mạnh mẽ, nhưng cũng có những lúc chán chường mỏi mệt rối bời, do đây Ngài làm nơi nương tựa để che chở, dìu dắt chúng sanh, giúp họ hướng đến mục đích giác ngộ giải thoát.

          Không nơi nương tựa nào vững chắc và đáng tin cậy bằng nương tựa vào một người thầy sáng suốt thấy rõ đường đi trong đêm dài tăm tối vô minh. Lời dạy của đức Phật là tấm bản đồ chỉ đường đi đến đỉnh cao giác ngộ; chư Tăng là những người dấn thân trọn đời đem chánh Pháp của đức Phật truyền bá và chuyn hóa chúng sanh. Đức Phật, Chánh Pháp và chư Tăng là ba ngôi báu, là nơi nương tựa và tin tưởng cho tất cả chúng sanh. Chúng sanh phải biết quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới cấm là giữ gìn nhân cách đạo đức căn bản cho chính bản thân và tạo dựng cuộc sống gia đình và Xã hội an lành hạnh phúc. Đây cũng là nền tảng căn bản để đưa chúng sanh tìm về con đường chơn tâm Phật tánh của mình.

          - Bước thứ bảy: Đi bước chân thứ bảy Ngài dừng lại, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài nói kệ ngôn đầu tiên: Thiên thượng thiên hạ, Duy Ngã độc tôn. Nhất thiết chúng sanh, Sanh, lão bệnh, tử.” Nghĩa là khắp trong thế gian, chỉ mình ta tôn quý. Chúng sanh trên thế gian, đều bị chi phối bởi sự sanh, già, bệnh, chết.

Chúng sanh vì vô minh vọng chấp nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Chỉ có đức Phật là người đã giác ngộ, Ngài dùng trí tuệ của mình để quán chiếu và phá trừ mọi phiền não nhiễm ô, tu tập thực hành hạnh lợi tha, đạt đến quả vị Vô Thượng Bồ Đề, thành tựu được chân ngã nên không còn bị sự sanh tử chi phối. Và bất cứ chúng sanh nào khi tu tập đạt giải thoát tối thượng thì đều có thể thành tựu được chân ngã.

Trong Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bổn Khởi quyển thượng có ghi như sau: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, tam giới giai khổ hà khả lạc giả.” Nghĩa là: Trên trời dưới trời chỉ có người đạt được chân ngã mới là bậc tối thượng, ba cõi đều khổ, làm sao sướng được?

            Qua câu nói: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn", có nghĩa là trong 6 cõi luân hồi: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, hay nói gọn hơn: trên trời dưới đất, chỉ có chân ngã, tức là bản tâm thanh tịnh là đáng tôn kính. Chính cái ngã độc tôn siêu việt này là viên ngọc vô cùng vi diệu. Đây chính là viên ngọc Phật tánh thường hằng, thanh tịnh bất biến trong mỗi con người mà ngay khi vừa thị hiện, Ngài đã nhận ra được chân lý ấy. Chỉ có cái chân ngã độc tôn này con người xây dựng một cuộc sống thật sự an lạc và giải thoát. Người giác ngộ được điều này, sẽ giải thoát được phiền não khổ đau và ra khỏi sanh tử trong 6 cõi luân hồi, đứng trên tòa sen thứ bảy, tức là an trú nơi cảnh giới Niết bàn: thường, lạc, ngã, tịnh.

Tuy nhiên, chúng ta thấy có Phật Đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni và nhập diệt nơi rừng Ta La Song Thọ. Nhưng kỳ thật, sự Đản sanh và nhập diệt của Ngài mà chúng ta thấy chỉ là hóa thân sanh diệt mà thôi, còn pháp thân và báo thân của Ngài thì vẫn tự tại.

Khi một Đấng Tuệ Giác thành tựu Phật tri kiến rồi, thì không còn mắc kẹt cái tầm thường của chúng sinh nữa. Bởi vậy, Đức Thích Ca Mâu Ni từ cung trời Đâu Suất đã hóa thân thị hiện trong cõi Diêm Phù Đề này và nằm trong bụng Ma Gia phu nhân. Ngài không phải nằm trong bụng mẹ như những thai nhi khác, mà Ngài nằm nơi đó vì đại nguyện, đại trí và đại bi.

Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện và Ngài đi trên bảy hoa Sen là để chứng tỏ rằng, Ngài xuất hiện trên cõi đời này với tâm vô nhiễm, với trí vô nhiễm, với tuệ vô nhiễm. Ngài thương yêu mà vô nhiễm, còn chúng ta thương là nhiễm, chúng ta không thương thì thôi, còn thương là nhiễm, thương là kẹt. Vì ý nghĩa này, mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xuất hiện trên hoa sen, Ngài ngồi trên hoa Sen, Ngài đứng trên hoa Sen.

      IV. NHỮNG Ý NGHĨA TRỌNG ĐẠI CỦA NGÀY LỄ PHẬT ĐẢN

Khi tổ chức kỷ niệm đại lễ Phật Đản, tức là chúng ta tưởng nhớ đến ngày ra đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Từ Phụ của chúng ta. Khi làm lễ cần nghĩ đến những ý nghĩa như sau:

                1. Khai mở tuệ giác cho hết thảy chúng sinh

Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có trí tuệ, nhưng trí tuệ đã bị chôn vùi bởi hàng hàng, lớp lớp vô minh. Do đó, sự xuất hiện Đức Phật trong cõi đời này là để khơi mở trí tuệ cho hết thảy chúng sinh, phá trừ màn vô minh, để nhân loại nhận ra được Phật tính ở nơi tự thân của chính mình và Ngài khẳng định rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.

Qua lời khẳng định đó, cho chúng ta thấy là tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Đức Phật nêu cao tinh thần tự lực sẵn có nơi mỗi người, khuyến khích mọi người không nên nương vào tha lực, không nương vào một sức mạnh siêu hình, mà hãy nương vào chính bản thân mình. Cho nên, trong phần cuối các thời Kinh tụng của Tịnh Độ tông luôn có câu là “Tự quy y Phật,…. Tự quy y Pháp,… Tự quy y Tăng,….”

Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm của mỗi người đều có đủ pháp Từ Bi, Hỷ Xả, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn... Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy. Tự quy y Tăng chính là quay trở về với đức tánh thanh tịnh, hòa hợp của chính mình.

               2. Chỉ ra khổ và nguyên nhân đưa đến khổ

Đức Phật ra đời là để chỉ bày cho chúng sanh nhận diện được đâu là con đường hạnh phúc an lạc và đâu là con đường khổ đau luân hồi; đâu là giá trị cao quý trong cuộc sống của chúng ta. Ngài cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng, một đời sống có thể trở thành cao quý khi lời nói, hành động, việc làm của họ được phát xuất từ một tâm hồn cao quý. Nếu lời nói tầm thường, hành động tầm thường, việc làm tầm thường thì có gốc rễ từ nơi một tâm hồn tầm thường. Tâm hồn tầm thường chính là tâm hồn ích kỷ, tham lam, sân si, cố chấp, kiêu ngạo. Lời nói nào phát xuất từ tâm hồn kiêu ngạo, ích kỷ, hẹp hòi... lẽ đương nhiên lời nói đó có khả năng làm phá hoại hết thảy hạnh phúc, an lạc của chúng ta, có khả năng tàn phá hết đời sống cao quý và làm mất hết công đức lành của chúng ta.

Muốn có được hạnh phúc, an lạc, Đức Phật chỉ bày cho chúng ta rất rõ là phải nuôi dưỡng tâm hồn Từ, Bi, Hỷ, Xả. Chúng ta muốn sống một đời sống cao thượng mà không biết nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn Từ, Bi, Hỷ, Xả, chuyên trì giới, thiền định.v.v… thì chúng ta không thể nào có đời sống cao thượng, hạnh phúc và an lạc được.

                 3. Tu tập và thành tựu giác ngộ an lạc ngay trong đời sống hiện tại

Đức Phật ra đời hướng dẫn cho chúng sinh thành tựu được giác ngộ ngay ở trong đời sống của chính mình, ngoài đời sống của chính mình ra không có đời sống giác ngộ nào để cho chúng ta đi tìm kiếm.

Một người đau khổ tột cùng cũng có thể vươn mình đi đến đời sống hạnh phúc, an lạc nếu người đó biết chuyển hóa. Dù một kẻ rất tầm thường cũng có thể vươn mình đi đến đời sống thánh thiện, cao thượng. Bao nhiêu kẻ bất hiếu với cha mẹ, nhưng khi gặp thầy hiền, bạn tốt, sống trong một khung cảnh dễ thương, họ trở thành một con người hiếu kính, một con người thuần thiện. Điều đó đã chứng tỏ rằng, chúng ta có thể giác ngộ được, nhận ra được cái tính chất cao thượng của chúng ta ngay trong đời sống của mình.

Ngày xưa, khi Vua A Dục chưa gặp Phật pháp thì ông là một vị Vua hết sức tàn ác, ông bất chấp mọi thủ đoạn để đoạt được ngôi vua. Thế mà khi vua A Dục có duyên gặp được một vị Thánh Tăng giáo hóa, thì ông đã chuyển hóa hoàn toàn và trở thành một vị hộ Pháp đắc lực và góp công lao rất lớn trong việc hoằng truyền và xiển dương chánh pháp. Tương tự như câu chuyện vua A Xà Thế cũng vậy…

Cho nên lời chư Tổ dạy rằng:“Bất úy tham sân khởi. Duy khủng tự giác trì”. Nghĩa là:“Không sợ tham sân khởi dậy, mà chỉ sợ mình giác ngộ chậm”. Nếu mình hiểu được đạo, giác ngộ được đạo, thì bao nhiêu xấu xa, bao nhiêu cái tầm thường ở trong đời sống của mình cũng được chuyển hóa thành cái cao thượng, chuyển thành những điều có ý nghĩa.

              4. Làm khơi dậy đức Phật trong mỗi người

Chúng ta làm lễ Đức Phật đản sanh, nghĩa là chúng ta có khả năng làm cho Đức Phật trong ta Đản sanh mỗi ngày. Chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Phật thì phải cố gắng tu tập để chuyển hóa những điều xấu thành tốt, để Đức Phật trong chúng ta phải ra đời mỗi ngày, chứ không đợi 365 ngày mới đến Chùa làm lễ Đản Sinh. Đạt được như thế thì ta mới có khả năng một ngày nào đó ta sẽ đi những bước vững chãi trên những đóa hoa Sen thanh tịnh và vô nhiễm.

      III. KẾT LUẬN

Lễ kỷ niệm ngày Đản sanh của Đức Từ Phụ là nhằm nhắc nhở những người con của đức Phật hãy nhìn lại những đức tánh cao cả của Ngài để mỗi người chúng ta tự phát huy những đức tánh đó trong tự thân của chính mình.

Chúng ta đã xét qua ý nghĩa về sự Đản sinh của Đức Phật, để thấy rõ rằng sự xuất hiện của Thế Tôn, vị giáo chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời. Cứ mỗi lần mùa Khánh Đản đến là chúng ta có dịp để nhớ lại những những hạnh nguyện xuất trần của Ngài. Ngài đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát để độ sanh. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và tuyệt vời, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hóa để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện noi gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của muôn người.

Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm nương theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát. Và những Tăng Ni giảng sinh của chúng ta hiện diện nơi đây cũng không ngoài mục đích đó.

Đức Phật xuất hiện trên đời như một sự kiện trọng đại của lịch sử loài người. Ngài giáng sanh tại đất nước Ấn Độ như một vầng dương tỏa rạng, xua đi những bất công của xã hội. Ánh sáng đạo lý của Ngài có sức mạnh xóa bỏ những giai cấp và hàng phục tất cả mọi ngoại đạo tà giáo.

Mỗi lần kỷ niệm ngày Phật Đản, là chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tôn Thiền Đức hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện. Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để noi gương Ngài cùng bước từng bước an lạc thảnh thơi trên những bất ổn, cam go, đau khổ của cuộc sống.

Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trần thế, nhưng phải biết vươn lên không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm. Từ đó chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cùng được an lạc và hạnh phúc. Đây là cách duy nhất để đền đáp ân nặng của Đức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta.

Nhìn qua lịch sử xưa nay, những anh hùng cái thế lập nhiều chiến công hiển hách trên những đấu trường, thắng hàng ngàn quân địch, nhưng thử hỏi có ai chiến thắng được dục vọng của chính mình? Thắng người đã là một việc khó, thắng được chính mình lại là một việc làm khó hơn. Đức Phật đã thắng cả ngoại ma lẫn nội ma, vượt qua tất cả dục vọng thấp hèn, Ngài thật xứng với danh xưng Đại Hùng, Đại Lực.

Ngài không vì quyền lợi riêng mà chiến đấu, cũng không vì tình thương yêu hạn hẹp ở cha mẹ, vợ con, bè bạn, quốc gia, lãnh thổ; mà vì lòng từ vô lượng đối với tất cả chúng sanh mà đi tìm con đường giải thoát cho mọi loài. Ngài xứng với danh hiệu Đại Từ, Đại Bi.

Vì tình thương yêu rộng lớn, không bỉ thử, không thân sơ, nhân ngã ấy, Ngài từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, uy quyền, lạc thú trần gian, cam chịu một cuộc đời sống trong kham khổ, đạm bạc thiếu thốn, giáo hóa đó đây, Ngài xứng với danh xưng Đại Hỷ, Đại Xả.

Sự xuất hiện của Đức Thích Ca Mâu Ni trong trần thế là cả một vinh hiển lớn cho con người và xã hội. Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng; là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho hết thảy chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới. Nếu cuộc đời không đau khổ tối tăm, Đức Phật đã không xuất hiện ở đời. Ngài ra đời vì một mục đích trọng đại là chỉ bày cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến của chính mình. Hay nói khác hơn, "vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người" mà Đức Thế Tôn xuất hiện ở thế gian.

 

 

BÀI 2

          A. DẪN NHẬP

Mùa Phật Đản lại về trong lòng người con Phật với bao nỗi xúc động, hân hoan tràn ngập cõi lòng. Bởi vì nếu không có sự kiện Đản Sanh vĩ đại, hy hữu ngày ấy thì nhân loại sẽ vĩnh viễn không biết được rằng chúng sanh hữu tình đều có khả năng thành Phật, và cõi đời này sẽ mãi chìm ngập trong khổ đau của bóng tối vô minh. Cho nên sự ra đời của Đức Phật là bước ngoặc quan trọng cho loài người biết hướng về ánh sáng giác ngộ và giải thoát.

Thế Tôn là hiện thân của ánh sáng chân lý nhiệm mầu, của từ bi vô hạn, của lẽ sống muôn loài. Tuy nhiên, có khá nhiều tín đồ biết đến ngày Phật Đản là ngày truyền thống của Phật giáo, thế nhưng ít ai hiểu rõ ý nghĩa “Phật Đản” và nguyên nhân nào để có sự Đản sanh của đức phật.?

Hôm nay, chúng ta cùng nhau đốt nén tâm hương, chắp tay thành kính, ôn lại tiến trình và ý nghĩa sự Đản Sanh của đức Phật.

Trong vườn phong cảnh đẹp thay

Cây vươn nhánh xuống dang tay đỡ người

Bà vin cành biếc mỉm cười

Hoa vô ưu nở cánh tươi đón chào

Bà sinh thái tử lành sao

Dễ thương, kháu khỉnh, hồng hào, tinh anh.

Địa cầu như rạng bình minh

Tràn niềm hạnh phúc, đầy tình vui tươi

Điềm lành xuất hiện khắp nơi

Cầu vồng phô sắc, đất trời tỏa hương

Rằm tháng Tư đẹp lạ thường

Một ngày trọng đại mở đường tương lai.

B. NỘI DUNG

      I. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI TRƯỚC PHẬT RA ĐỜI

Tình cảnh xã hội Ấn độ lúc đó là một xã hội đa thần, với 96 giáo phái khác nhau, họ ra sức tranh giành ngôi vị độc tôn. Và xã hội được chia thành bốn giai cấp là:

          - Bà La Môn: Họ cho rằng họ được sinh ra từ miệng Phạm Thiên nên được xem là giai cấp cao nhất, chuyên lo về nghi thức cúng tế, lễ nghi tôn giáo.

- Sát Đế Lợi: Được cho là sinh ra từ hai cánh tay của Phạm Thiên, là giai cấp vua chúa cai quản, thống trị đất nước.

- Vệ Xá: được cho là sanh ra từ nơi bụng của Phạm Thiên, là giai cấp công, nông, thương nghiệp lo về kinh tế cho đất nước.

- Thủ Đà La: được sanh ra từ nơi bàn chân Phạm Thiên, do vậy họ phải có nhiệm vụ phục dịch và làm nô lệ cho 2 giai cấp trên. Hai giai cấp trên ra sức bóc lột hai giai cấp dưới, nhất là giai cấp Thủ Đà La là những người suốt đời bị chà đạp, bị xem thường. Họ phải làm những việc như hốt phân, khiêng xác chết, ở đợ, làm mướn và bị bóc lột tận xương tủy mà không có nhân quyền, không được pháp luật bảo vệ. Thậm chí nếu họ vô tình xem kinh Vệ Đà sẽ bị móc mắt, bàn tay họ chạm vào y phục của người thuộc giai cấp Sát Đế Lợi sẽ bị chặt tay…Cho nên xã hội Ấn Độ lúc đó tràn ngập tiếng rên xiết, đau thương, uất ức đã thấu tận trời xanh.

     II. SỰ KIỆN ĐỨC PHẬT ĐẢN SANH

             1. Bồ Tát Hộ Minh giáng thế

Tại cung tời Đâu Suất, có một vị Bồ Tát tên là Hộ Minh lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ sanh của mình. Bồ Tát quán sát khắp thế gian, biết rằng trong khi các vua, quan ra sức bóc lột, chèn ép người dân không chút thương xót, thì tại kinh thành Ca Tỳ La Vệ, gần ven sườn dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, có một vị vua tên là Tịnh Phạn thuộc dòng Thích Ca và hoàng hậu là Ma Da cũng thuộc dòng vua chúa. Cả hai người này rất nhân từ và đều là người đã nhiều kiếp tu hành, có đức hạnh lớn, xứng đáng làm cha mẹ muôn dân, và dân chúng ở xứ ấy rất là thuần lương, đạo đức.

Khi thấy đầy đủ nhân duyên, vào một ngày trăng tròn tháng tư âm lịch (tháng Visakka), năm 624 BC, tại vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini), thành Ca-tỳ-la-vệ (kapilavatthu), xứ Nepal ngày nay, bậc Bồ-tát đại sĩ đã giáng phàm.

          2. Ba thuật ngữ chỉ sự ra đời của đức Phật

Danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ:

  • Đản sanh là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời.
  • Thị hiện là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được.
  • Giáng sanh là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra.

          3. Đức Phật lịch sử

          Một hôm, trong thành Kapilavastu có lễ hội Tinh Tú, vua tôi cùng nhau cúng bái. Hoàng hậu Ma Gia sau khi dâng hương hoa trong nội điện và ra khỏi ngọ môn bố thí thức ăn, đồ mặc cho dân chúng, bà trở về cung an giấc, mộng thấy một tượng vương trắng 6 ngà từ trên hư không bay xuống, lấy ngà khai hông bên hữu mà chui vào. Các quốc sư đều cho rằng Hoàng hậu sẽ hạ sanh một quý tử tài đức song toàn. Nghe điều này, Vua Tịnh Phạn rất vui mừng, vì từ nay ngôi báu đã có người kế thừa.

“Nhạc trời trỗi dạy khắp muôn phương,

Hoa nở chim ca ý dị thường,

Rộn rã ưu đàm phơi nắng hạ,

Vườn Lâm hòa diệu gió say hương”.

          Theo Kinh Đại Bản, Bồ Tát trong thai mẹ 10 tháng mới sinh ra. Mẹ Bồ tát đứng mà sanh. Khi sanh ra, chư thiên đỡ Ngài trước, sau mới đến loài người. Thân Bồ Tát không đụng đến đất, có bốn thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ mà thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ, Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt hoặc máu mủ nào. Có hai dòng nước từ hư không hiện ra, một nóng một lạnh tắm rửa sạch sẽ cho Bồ Tát và bà mẹ. Ngài đứng vững trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương rồi thốt lên một câu mạnh mẽ như con Ngưu vương:

“Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn,

Vô lượng sinh tử kim ư tận hỷ”!

Nghĩa là “Ta là bậc tối thượng tối tôn ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, ta không còn phải tái sanh lại cõi đời này nữa”.

          Theo truyền thống kinh Bắc tạng cho rằng Thái tử sanh ra từ bên hông hữu của Hoàng hậu. Và Ngài bước đi bảy bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất mà nói rằng: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn.” Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu chiếu khắp mười nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung chuyển.

Tuy nhiên, yếu tố huyền sử của đức Phật đản sinh đã xuất phát từ trong hiện thực mà cuộc đời Ngài là một minh chứng. Từ khi sinh ra, lớn lên, xuất gia, tu học và thành đạo cho tới khi Niết Bàn, mỗi bước chân của Ngài là sự hóa hiện bi nguyện độ sanh, mang tình thương, an vui hạnh phúc đến cho muôn loài.

          Thật vậy, nói về đức Phật, nếu ta chỉ dựa trên quan điểm lịch sử hay tin suông theo huyền thoại thì chưa đủ. Ta phải kết hợp giữa đức Phật lịch sử và đức Phật huyền thoại thì mới có thể khắc hoạ được một cách hoàn mỹ chân dung con người siêu việt ấy

Lịch sử đã ghi nhận sự hiện hữu của đức Phật trên thế gian này cách đây hơn 25 thế kỷ: Đó là một nhân vật có thật trong lịch sử nhân loại.

Năm 1986 nhà khảo cổ người Anh Cuningham đã khai quật được một trụ đá trong số 4 trụ đá do vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắn liền với lịch sử của đức Phật, thường gọi là Tứ Động Tâm. Trên trụ đá có khắc năm dòng chữ:

- Năm Thiên Ái Thiện Kiến thứ 25 vua A Dục đích thân đến đây chiêm bái.

-  Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Đản sinh nơi đây.

- Vua sắc dựng thanh trụ để kỉ niệm nơi Ngài đản sinh.

- Thôn Lâm-tỳ-ni, nơi Phật đản sinh được miễn thuế.

-  Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sinh.

Y cứ vào trụ đá được khai quật, Tây phương xoá bỏ quan niệm cho rằng đức Phật là nhân vật huyền thoại và chấp nhận là một nhân vật lịch sử, vì theo Tây phương, trụ đá đó chính là bản khai sinh của đức Phật.

Đứng về gốc độ lịch sử thì ta nhận biết rằng: Ðức Phật giáng sinh vào ngày 08 tháng 4 năm 623 BC tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), cách thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) khoảng 15 cây số, nay là xứ Ruminidhehi, thuộc quản hạt Aouth, phía Tây Nam xứ Népal và phía Ðông Rapti. Song thân Ngài là Quốc vương Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca), Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nằm ở ven sườn dãy núi cao ngất trời - Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) - nằm phía Ðông-Bắc Ấn Ðộ, thủ phủ là Kapilavastu, nay là Népal. Vì khi Phật ra đời chưa có lịch về năm tháng ngày giờ mà chỉ ước chừng theo sao, theo trăng nên sự thống nhất không đồng bộ. Chính vì sự không giống nhau của một bậc tối tôn mà nhân loại quy ngưỡng nên Theo Hội Phật giáo Thế giới lấy ngày Phật đản sinh năm 624 trước Tây lịch và Niết Bàn 544 trước Tây lịch.

         III. NHỮNG HIỆN TƯỢNG LÀNH TRƯỚC KHI THÁI TỬ ĐẢN SANH

Kinh Nhân quả ghi rằng khi Bồ tát thị hiện thì Ngài có quán xét năm điều như sau:

- Căn cơ chúng sanh đã thuần thục hay chưa.

- Đã đến lúc hay chưa.

- Nước nào nằm ở trung tâm.

- Chủng tộc nào tôn quí nhất.

- Quán nhân duyên quá khứ, ai là người đích thực thích hợp làm cha mẹ.

Năm vấn đề này chúng ta có thể tóm gọn thành 4 điều như sau:

- Quán thời cơ: Thời cơ có tám loại. Sau khi Phật xuất thế, tuổi thọ con người được tám vạn bốn nghìn năm là thời thứ nhất, cho đến thời thứ tám là con người thọ hơn một trăm năm. Bồ tát nghĩ: “Con người thọ trăm tuổi là đã đến lúc Phật xuất thế”.

- Quán đất đai: Chư Phật thường sinh cõi nước trung tâm, nơi sung túc có nhiều của cải, đất đai tốt sạch.

- Quán chủng tộc: Phật sinh vào hai chủng tộc, hoặc Sát-đế-lợi hoặc Bà-la-môn. Vì dòng Sát-đế-lợi có thế lực lớn, dòng Bà-la-môn có trí huệ sâu. Tùy thời dòng nào được tôn quý thì Ngài sinh vào dòng đó.

- Quán nơi sinh: Những người mẹ nào có thể mang thai Bồ tát sức mạnh phải như Na La Diên, laị cũng có thể tự giữ giới thanh tịnh. Khi xem tướng xong, Bồ Tát chỉ thấy được là Hoàng hậu vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ có thể mang thai Bồ tát mà thôi. Thế rồi từ cung trời Đâu Suất, Bồ tát hóa thân đi vào trong thai mẹ.

Theo kinh Phật Bản Hạnh ghi: “Lúc bấy giờ mùa đông đã qua, bước vào đầu mùa xuân, cảnh vật tuyệt đẹp, cây cối đơm bông kết trái, không khí trong lành ấm áp, cỏ non xanh mềm mại trải khắp mặt đất. Khi ấy, Thiên chủ cõi trời Tịnh Cư nói với chúng trời “Các ông thấy Bồ tát Hộ Minh sắp sinh vào cõi nhân gian chớ sinh buồn khổ! Vì sao? Vì khi sinh vào cảnh giới kia, chắc chắn Bồ Tát sẽ thành tựu A-nậu-bồ-đề. Sau khi thành đạo, Ngài sẽ trở lại thiên cung này, giảng pháp cho các ông, như thuở xưa đức Phật Tỳ Bà Thi cho đến Phật Ca Diếp cũng từ nơi này mà xuống nhân gian rồi cũng trở lại thuyết pháp cho các ông.

Như vậy chúng ta thấy không chỉ riêng Bồ tát Hộ Minh ở cõi trời Đâu Suất này mà chư Phật trong quá khứ đều ở nơi này. Theo Trí Độ luận cho rằng: “Có người nói công hạnh của Bồ Tát đã thuần thục nên ứng sinh ở Đâu Suất. Nếu sinh vào cõi dưới thì phiền não sâu dày, nếu như lên cõi trên phiền não nhẹ mỏng. Cõi trời Đâu Suất, phiền não không sâu dày, không nhẹ mỏng, trí tuệ an ổn. Mặt khác, sinh ở Đâu Suất thì thời điểm Phật xuất thế không bị trôi qua.

Nếu sinh ở cõi dưới thọ mạng ngắn ngủi, chưa đúng lúc Phật xuất thế; Nếu sinh ở cõi trên thọ mạng dài lâu nên lại vượt quá thời điểm Phật cần xuất thế. Cõi trời Đâu Suất ở giữa lục Thiên và Phạm thiên, tức chỉ cho trung đạo vậy. Cũng như  những sự kiện của đức Phật mà chúng ta thấy là nửa đêm giáng thần, nữa đêm rời nước Ca-tỳ-la-vệ, nữa đêm đắc Bồ Đề, nửa đêm nhập vô dư niết-bàn.v.v…Tất cả đều thể hiện lý trung đạo.

Theo như kinh Niết Bàn ghi: “Lúc Bồ Tát xuống nhân gian, chư thiên cõi Dục, cõi Sắc đều đến hầu hạ, tiễn đưa, cất tiếng lớn ca ngợi. Gió phát ra từ miệng họ đã làm chấn động đại địa”.

Kinh Niệm Phật Tam Muội ghi: “Khi Bồ tát sắp vào thai mẹ, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách.”

Kinh Nhân Quả thì ghi rằng: “Lúc Bồ tát sắp vào trong thai mẹ, từ cung trời Đâu Suất, ngài cưỡi voi trắng sáu ngà đi xuống. Khi ấy, có chư thiên trỗi nhạc trời, đốt hương quý, rãi hoa đẹp theo Bồ Tát đầy khắp hư không. Bồ Tát phóng ánh sáng chiếu khắp cả mười phương thế giới. Khi ấy, hoàng hậu Ma Da đang an giấc thì mộng thấy Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà từ trên hư không vào bên hông phải, toàn thân Bồ Tát ảnh hiện ra ngoài như ở trong lớp lưu li. Thân tâm hoàng hậu an ổn khoái lạc như vừa được uống cam lồ. Bà nhìn lại, thấy thân mình như mặt trời, mặt trăng tỏa chiếu, lòng càng vui mừng tột độ. Mộng thấy thế rồi, phu nhân chợt tỉnh giấc. Cho là điều kì lạ hiếm có, nên bà thuật lại giấc mộng cho vua Tịnh Phạn nghe.”

Sau khi nghe xong điềm mộng của hoàng hậu, vua liền ra sắc lệnh cho gọi tám vị Bà la môn là bậc đại sư đoán mộng đến. Vua hỏi về điềm mộng, họ biết đó là các tướng tốt lành và trình bày:

Tâu đại vương! Như chỗ thấy biết của chúng thần, điềm lành này có ghi trong kinh sách của tiên và trời như bài kệ sau:

Nếu người mẹ mộng thấy,

Mặt trời vào hông phải.

Người con này sinh ra

Ắt thành chuyển luân vương.

xxx

Nếu người mẹ mộng thấy,

Mặt trăng vào hông phải.

Người con này sinh ra

Là vị vua đệ nhất.

xxx

Nếu người mẹ mộng thấy,

Voi trắng vào hông phải.

Người con này sinh ra

Là bậc thầy ba cõi.

Làm lợi ích chúng sinh

Oán thân đều bình đẳng

Độ thoát nghìn muôn chúng

Vượt biển sâu phiền não

Vào đúng ngày Đản sinh Thái tử, trong thành Ca Tỳ La Vệ, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương.

Cũng chính trong ngày ấy có nhiều điềm lạ xuất hiện, theo các kinh ghi lại rằng:

Kinh Tu Hành Bản Khởi ghi: “Khi ấy tám vạn bốn ngàn trưởng giả trong nước đều sinh con trai, tám vạn bốn nghìn ngựa đều sinh ngựa con. Trong đó có một con ngựa rất đặc biệt, lông của nó toàn màu trắng, bờm như xâu chuỗi báu, nên đặt tên là Khiển – đặc và người giữ ngựa tên là Xiển- đặc”. Còn kinh Thụy Ứng Bản Khởi ghi: “Người giữ ngựa tên Xa - nặc, ngựa tên Kiền - trắc.

Kinh Niết Bàn ghi: “Bồ tát vừa sinh liền hướng về mười phương, mỗi phương đi bảy bước. Lúc ấy, quỷ thần đại tướng Ma Ni Bạt Đà, Phú Na Bạt đà cầm cờ lọng làm chấn động vô lượng vô biên thế giới, ánh sáng vàng chiếu rực rỡ khắp cả hư không. Long vương Nan Đà và Bạt Na Đà dùng sức thần thông tắm Bồ tát. Các trời hiện hình nghinh tiếp và lễ bái.

Kinh Thụy Ứng ghi: “Khi hay tin hoàng hậu vừa hạ sinh Thái tử, vua Tịnh Phạn cùng với binh lính, quần thần đến vườn Lâm Tì Ni. Đến nơi, Vua thấy Thái tử hiện điềm lạ như thế thì vừa vui vừa sợ, chấp tay lễ tạ các thiên thần. Sau đó, Vua bế Thái tử đặt lên xe bảy báu rồi cùng với quần thần, thể nữ, chư thiên trỗi nhạc theo vào thành. Trên đường trở về cung, Vua đưa Thái tử vào miếu thờ trời, thái tử vừa vào miếu thì tượng Phạm Thiên liền đứng dậy đảnh lễ dưới chân Thái tử và nói với vua Tịnh Phạn rằng:Đại vương nên biết! Thái tử đây là bậc tôn quý trong trời người, tất cả thiên hạ trong hư không đều phải đảnh lễ. Đại vương không thấy việc ấy hay sao mà còn đưa Thái tử đến đây để đảnh lễ tôi.” Vua cùng các đại thần đều cho là việc chưa từng có, liền đưa Thái tử rời miếu trở về hoàng cung. Bấy giờ, Thích, Phạm, Tứ Thiên Vương đều rời chỗ ngồi xuống nhân gian, năm vóc sát đất đảnh lễ dưới chân Bồ tát. Khi ấy, trăm nghìn chúng trời người, nhân gian im lặng tán ngưỡng rồi bỗng đồng loạt cất tiếng lớn ca ngợi việc chưa từng có. Họ vô cùng sung sướng, trời đất chấn động mạnh, trời mưa các loại hoa, trăm nghìn kĩ nhạc không trỗi tự vang.

Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết liền mời các vị tiên tri đến xem tướng cho Thái tử. Trong số ấy, có đạo sĩ tên A Tư Ðà tu ở núi Hy Mã Lạp, tiên đoán rằng: Thái tử vì có 32 tướng tốt xuất hiện, nên sẽ trở thành một vị Thánh. Nhưng vua Tịnh Phạn lại chỉ muốn con mình làm một vị vua để nối dõi tông đường mà thôi. Vì thế, Tịnh Phạn Vương muốn đổi số mệnh con mình, nên đặt tên cho Thái tử là Tất Ðạt Ða (Siddartha) theo tiếng Phạn, nghĩa là: "Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ". Chức vị mà Tịnh Phạn Vương muốn ám chỉ đây tức là ngôi Vua. Ngài không ngờ rằng chính thật chức vị của Ngài là chức vị Phật.

Theo như kinh Thụy Ứng ghi: “Bấy giờ, vua Bạch Tịnh ra lệnh tìm năm trăm thầy tướng giỏi để xem tướng cho Thái Tử. Các thầy tướng đều nói: “Thái Tử là con mắt của thế gian, giống như vàng, các tướng hiện ra rất rõ ràng. Nếu Thái Tử xuất gia thì sẽ thành tựu nhất thiết chủng trí. Nếu ở đời sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, thống lãnh bốn thiên hạ, cao tột bậc nhất.”

Kinh Bồ Tát Bản Hạnh ghi: Bồ tát ở trong thai thấy mẹ đứng đưa tay vịn cành cây, liền chính niệm từ chỗ ngồi đứng dậy. Bao nhiêu mẹ của tất cả các loài chúng sanh khác, lúc sắp sinh con toàn thân đau đớn và chịu nhiều khổ não, đứng ngồi không yên. Còn mẹ của Bồ tát vẫn vui vẻ, bình thường, thân thể vô cùng an ổn. Lại nữa, các loài chúng sanh lúc sinh đều bị các khổ bức bách, khi ở trong thai nhi thì di chuyển khắp bụng mẹ. Bồ tát thì không như vậy, Ngài nhập thai từ hông phải và ở mãi bên hông phải. Khi ở trong thai Ngài không di chuyển, đến khi sinh ra cũng từ hông phải, không bị các khổ bức bách. Đây là việc chưa từng có của Bồ tát. Đây biểu thị sự phạm hạnh thanh tịnh vĩnh viễn không còn sợ hãi, luôn được an vui, không còn các khổ.

Ý nghĩa thông qua những tướng lành khi Thái Tử Đản sinh

Lúc Bồ Tát ở nơi hông phải của mẹ chính niệm giáng sinh, liền phóng ánh sáng lớn chiếu soi khắp nơi. Đây là việc chưa từng có của Bồ Tát, biểu thị sau khi thành Phật, Ngài phá trừ lưới vô minh đen tối, phát ra ánh sáng trí tuệ rực rỡ thanh tịnh.

Khi ngài sinh ra thân thể của mẹ vẫn an lành, không bị tổn thương, không đâu đớn. Đây là việc chưa từng có của Bồ tát và biểu thị sau khi thành Phật, phạm hạnh thanh tịnh, không khuyết phạm, không suy giảm, đầy đủ không thiếu.

Khi Bồ tát vừa ra khỏi thai mẹ, không khổ, không não, an ổn đứng dậy, tất cả những thứ nhơ uế không dính vào thân, Ngài không giống như bao chúng sanh khác. Giống như Bảo Châu như ý bọc trong lụa Ca-thi-ca, không làm bẩn nhau. Đây là việc chưa từng có của Bồ tát, biểu thị sau khi thành Phật, Ngài ở tại thế gian thuyết pháp hi hữu, dù thế gian nhơ uế, nhưng không làm vấy bẩn Ngài.

Khi Bồ tát vừa ra khỏi thai mẹ thì trời Đế Thích dùng vải Kiều Thi Ca, mịn màng ở cõi trời quấn quanh tay, hiện ra trước tiên đỡ lấy thân Bồ tát. Đây là việc chưa từng có của Bồ tát, biểu thị, sau khi thành Phật, Ngài là giáo chủ của thế giới Ta-bà, Đại Phạm Thiên Vương là người đầu tiên khuyến thỉnh Như Lai thuyết pháp.

Khi Bồ Tát vừa từ hông phải của mẹ sinh ra, tứ Đại Thiên Vương liền bế Bồ tát đến cho Hoàng hậu xem và nói: “Nay hoàng hậu nên vui mừng, Người đã hạ sinh được một thân người, chư Thiên chúng tôi còn hoan hỉ, khen ngợi huống gì loài người”. Đây là việc chưa từng có của Bồ tát, biểu thị sau khi thành Phật, vô lượng bốn chúng nghe nhận giáo pháp, làm theo lời Như Lai dạy, không trái phạm.

Đức Phật ra đời đã mang đến cho nhân gian suối nguồn hạnh phúc của đạo Từ bi và chỉ đường cho chúng sanh đi từ bờ mê sang bến giác. Ngài chỉ dẫn cho con người đường hướng xây dựng bản thân, gia đình và xã hội hạnh phúc đẹp tươi, cao hơn là giác ngộ giải thoát. Giác ngộ sự thật của muôn vật, giải thoát mọi ưu phiền của vô minh, từ bỏ tham ái chấp trước, ra khỏi sinh tử luân hồi.

Chúng ta là người Phật Tử cần phải có niềm tin sâu chắc, cần phải thâm tín nhân quả. Nên trước những hiện tướng lành này của Phật không có gì là huyền thoại. Vì sao? Vì theo nhân quả, y báo và chánh báo như hình với bóng, nếu chánh báo chúng ta tốt thì y báo sẽ tốt. Chúng ta xem lại những chuyện mà ta biết như trái tim của bồ tát Thích Quảng Đức không hề bị đốt cháy, cái lưỡi của Ngài Pháp Sư Cưu Ma La Thập cũng vẫn còn nguyên sau khi hỏa táng, là vì sao, vì để minh chứng, làm niềm tin cho tín đồ Phật tử. Hoặc như ngày Ngài Mã Minh sinh ra, tất cả ngựa đều hí vang, hay như Ngài Tu Bồ Đề khi sinh ra, mọi đồ đạc trong nhà đều tự nhiên biến mất,v.v…đó chỉ là những bậc Thánh Tăng mà còn có nhiều điềm lạ như vậy, hà huống gì Phật đã tu tập trong vô lượng kiếp, tạo vô lượng nhân lành tốt đẹp thì những tướng lạ ấy không có gì là khó tin cả.

Hơn thế nữa, ngày nay, các nhà khảo cổ học đã khai quật được những bằng chứng xác thật về nơi đản sinh của đức Phật, nên chúng ta cần phải có niềm tin sâu chắc mới có thể tìm hiểu được những gì đức Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy qua việc thị hiện của Ngài.

    IV. Ý NGHĨA QUA NHỮNG HÌNH ẢNH LÚC BỒ TÁT ĐẢN SANH

          1. Ý nghĩa lễ tắm Phật

Nghi lễ tắm Phật dựa vào truyền thuyết có hai vị Long vương phun hai dòng nước, một dòng nước lạnh và một dòng nước nóng, tắm cho Thái tử Tất Ðạt Ða trong ngày đản sanh. Mọi người đều hoan hỷ sắp hàng, tâm niệm Phật, miệng niệm Phật, chờ đến phiên mình tiến lên lễ đài để múc nước tắm cho tôn tượng Ðức Phật đản sanh. Khi múc nước  tắm cho tôn tượng Ðức Phật đản sanh, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp thuận cảnh, phải lòng, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên. Việc làm này mang nhiều ý nghĩa vi diệu, có ích lợi lớn cho việc tu học, có thể chuyển hóa tâm trạng của con người từ phiền não khổ đau thành an lạc và hạnh phúc.

Đến cuối thế kỷ thứ 4 đầu thể kỷ thứ 5 thì nghi thức tắm Phật đã hoàn toàn du nhập vào xã hội Trung Quốc từ hoàng cung cho đến nhân gian, mỗi năm cứ đến ngày lễ Phật Đản thì nơi nơi đều rộn ràng tổ chức lễ tắm Phật. Theo sách Phật Tổ Thống Kỷ chép: "ngày mồng tám tháng tư năm thứ sáu niên hiệu Đại Minh (462), vua Hiếu Võ Đế thiết lễ tắm Phật...".

Sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 2 viết: “Từ đời Lý, mỗi năm hội Phật Đản đã được tổ chức thật lớn lao. Vua Lý Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên đã làm cho lễ Phật Đản trở thành quốc lễ lớn. Lễ tắm Phật bằng nước ngũ vị hương được cử hành sáng mồng tám tháng tư tại chùa Diên Hựu. Vua, hoàng hậu, các hoàng tử và công chúa cùng triều thần bách quan đều có mặt. Dân chúng các nơi tụ về rất đông để dự lễ. Sau khi chư Tăng tụng kinh Phật Thuyết Dục Tượng Công Đức, thì nước thơm được rưới lên tượng Phật. Trong khi đó, vua quan và quần chúng chắp tay hướng về niệm Phật”.

Người xưa hết sức kiền thành cung kính tác lễ tắm Phật mừng ngày Đản Sanh như vậy. Chúng ta những người nối chân các bậc tiền nhân luôn phải nhớ một niệm tri ân Đức Phật, ngoài ý nghĩa của tín ngưỡng tắm Phật để nguyện cầu sự gia hộ của chư Phật, chúng ta luôn ghi nhớ vì chính sự ra đời của Ngài mà ngày hôm nay chúng ta mới được thấm nhuần, chan hòa ánh sáng của giác ngộ. Ánh sáng trí tuệ của Phật đưa chúng ta thoát khỏi u mê vượt qua biển khổ, chỉ cho chúng ta thấy rõ bến bờ của giải thoát. Cho nên những giọt nước mà chúng ta rưới lên thân tượng của Đức Phật, những giọt nước đó sẽ trở thành cam lộ.

Trong Kinh Dục Phật Công Đức, đức Phật dạy ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát về cách thức Tắm Phật: "... Đức Phật dạy rằng khi tắm tôn tượng nên dùng các loại hương thơm như ngưu đầu chiên đàn, bạch đàn, tử đàn, trầm hương, uất kim hương, long não, xạ hương… pha vào nước sạch, đựng trong bình sạch. Chọn một nơi thanh tịnh, đẹp đẽ thiết lập đàn tràng, hoặc vuông hay tròn, kích thước xứng hợp, trên đàn đặt một bệ tắm, ở giữa bệ này tôn trí tượng Phật. Khi tắm tượng thì dùng nước nóng thơm, trong sạch rưới từ trên xuống, sau đó tiếp dùng nước tinh khiết để tắm lại. Nước dùng để tắm này phải được lọc cho thật sạch để không làm tổn hại đến các vi trùng. Nếu lấy hai ngón tay thấm vào nước vừa được dùng để tắm tượng rồi nhỏ lên đầu, thì nước này được gọi là nước cát tường. Không được giẫm chân lên dòng nước tắm tượng đang chảy trên đất sạch. Sau khi tắm tượng xong, dùng khăn mềm, mịn và sạch lau khô tượng, xông các loại hương trầm thơm quanh tượng, rồi đặt tượng về vị trí cũ trong điện Phật. Đức Phật còn dạy rằng, nhờ việc tắm tượng như thế, chúng sanh trong hiện đời được nhiều phước báu thù thắng, sở nguyện thành tựu, quyến thuộc được an ổn, mau thành chánh giác. Sau khi an trí tượng về chỗ cũ, nên đối trước tượng dâng hương cúng dường chắp tay, cung kính tụng bài kệ tắm Phật:

“Con nay tắm gội đức Như Lai

Công đức trang nghiêm tịnh trí đầy

Nguyện cho chúng sanh lìa năm trược

Mau chứng Như Lai tịnh pháp thân”

Vì vậy nhớ đến ngày Phật Đản Sanh là nhớ đến cội nguồn của giác ngộ, làm lễ tắm Phật có năng lực đưa chúng ta quay lại với chính tự tâm của mình bằng những giọt nước cam lộ thanh tịnh tưới trên thân tượng Phật, cũng như đang tưới vào chính tâm của tất cả mọi người, làm tươi mát ngọn nguồn giác ngộ. Ðây chính là ý nghĩa sâu sắc của nghi lễ tắm Phật vậy.

       2. Ý nghĩa voi trắng sáu ngà

Voi tượng trưng cho sức mạnh hùng dũng luôn hướng về phía trước. Voi trắng là thể hiện sự mạnh mẽ, đỉnh đạt, uy nghi, thanh tịnh… Voi trắng sáu ngà là một biểu tượng của Bồ tát thanh tịnh với muôn hạnh cứu đời. Sáu ngà lại càng đặc biệt hơn, vì thực tế không có con voi nào sáu ngà, nhưng đây hình tượng biểu đạt Bồ tát thành tựu được Lục độ ba la mật. Thế nên, voi trắng là cũng là hình tượng Đức Phật hóa thân. Ngài chính là Bồ tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất, cưỡi voi trắng sáu ngà ứng mộng vào hoàng hậu Ma Da, sau đó Bà mang thai và sinh ra Ngài.

        3. Ý nghĩa voi vào hông phải, thái tử đản sanh hông phải

Thái tử  được sinh ra từ hông bên phải. Điều này cũng không khó hiểu đối với người Ấn vốn xem bên phải là thiêng liêng, mầu nhiệm. Bằng chứng là họ luôn đặt hình tượng tôn kính về phía bên phải. Như vậy, bên phải biểu tượng cho sự tốt đẹp thuận chiều; tức là thuận chiều Niết Bàn và nghịch chiều sinh tử. Bên phải còn nói lên cội gốc lành, là lẽ phải….Thái tử (hiện thân của Bồ-tát) là một bậc siêu phàm, thân tâm thuần khiết, sạch trong, “cư trần bất nhiễm trần”, không bị cuốn hút bởi dòng xoáy của luân hồi sinh tử. Ngài đã vượt thoát mọi khổ đau ràng buộc của dục trần và đem chân lý giác ngộ giải thoát cứu độ quần sanh.

Thái Tử sanh ra từ hông phải cũng có nghĩa là Thái Tử bước ra khỏi phạm trù đối đãi của nhị nguyên “phải – trái, tốt – xấu, thương – ghét…” mà từ vô thỉ kiếp chúng sanh đã chấp chặt, để từ đó Ngài vạch ra một con đường mới đó chính là con đường Trung Đạo vậy.

Hông phải còn là gốc của cánh tay phải, mà cánh tay phải vừa tượng tương cho sức mạnh vừa tượng trưng cho chân lý, cho sự thật.

      4. Thái tử đản sanh dưới cây hoa vô ưu

          Hình ảnh cây hoa Vô ưu là biểu trưng cho sự trong sạch và thanh tịnh của một tâm hồn không còn phiền não khổ đau. Chỉ khi nào không còn những phiền muộn ưu tư trong lòng thì tâm hồn mới trong sáng. Sự trong sáng này là trí tuệ. Đây là trí tuệ Phật đã hiển bày trọn vẹn khi không còn một chút vọng tưởng nhiễm ô. Cũng thế, khi một vị thánh nhân xuất hiện ra đời thì bao nhiêu ưu phiền của thế gian đều nhường chỗ. Cội gốc Vô ưu là biểu tượng cho bản tâm thanh tịnh của vị thánh nhân hoàn toàn trong sáng và yên tĩnh nhưng diệu dụng hằng sa.

          Hoa Vô ưu thì ngàn năm mới nở một lần, Nhưng khi hoa đã nở rồi, thì không gian mãi mãi vẫn còn phảng phất mùi hương. Thái tử Tất Đạt Đa là đóa hoa Ưu Đàm thơm ngát ấy, mãi mãi nở bất tận và luôn luôn hiện hữu trong lòng tất cả mọi người.

  Diễm phúc thay cho toàn nhân loại, đấng siêu nhân xuất hiện ra đời không ngoài lý do duy nhất là đáp ứng mọi nguyện vọng thâm sâu thầm kín của con người, đem đến muôn ngàn hạnh phúc an vui. Ngài khai ngộ tuệ giác và làm thức tỉnh nhân thế, để mọi người trở về với cội nguồn của chính mình.

  Đức Phật vì một nhân duyên lớn mới thị hiện ra đời, nhân duyên đó chính là “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật Tri Kiến”, để cho chúng sinh chuyển mê ra ngộ, thấy tính tỏ tâm, vượt khỏi sống chết, lìa khổ được vui.

           5. Ý nghĩa đi bảy bước 

Thái tử vừa sinh ra liền bước đi bảy bước trên bảy hoa sen “bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc, ba ngàn thế giới đón Như Lai”, mà không cần người nâng dắt.

Thái tử an nhiên xuất hiện với ba mươi hai hảo tướng mỹ diệu và tám mươi vẻ đẹp tuyệt trần. “Vị Bồ tát khi sinh ra Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng về phía Bắc bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, Ta không còn tái sinh ở đời này nữa…”.

  Với những bước chân đầu tiên, Ngài khuyến hóa nhân loại hãy bước đi trên đóa hoa sen tinh khiết tươi đẹp, sống an lành nơi chân lý nhiệm mầu, đừng đứng mãi dưới bùn nhơ tăm tối, đừng tự đánh mất mình trước dục vọng hão huyền, hãy vượt lên chướng ngại của tự thân, hãy tự tại trong cuộc đời đầy gian lao thử thách.

 Tại sao chỉ là bảy bước mà không phải con số nào khác hơn như năm bước, sáu bước hay tám bước chẳng hạn? Về điều nầy thì cũng có nhiều bản kinh viết, tuy có khác đôi chút nhưng con số 7 vẫn là thuyết chung. Có rất nhiều người giải thích khác nhau nhưng vẫn cùng chung ý nghĩa: Con số 7 là con số tốt lành giống như người Trung Hoa xem con số 9 là con số kiết tường vậy.

Số 7 là “con số huyền học Đông phương” mà người Ấn rất xem trọng. Có người giải thích Thái tử đi bảy bước là vì Ngài là vị Phật thứ bảy, tiếp nối sáu vị Phật đi trước là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp và tới ngài là Phật Thích Ca.

Hoặc theo tư tưởng Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ không ngoài con số 7: Trên, dưới, trong, ngoài, phải, trái và chính giữa. Từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi Tu Di, tất cả đều không ngoài con số 7.

Bảy bước tượng trưng cho ba yếu tố (quá khứ - hiện tại- vị lai) và bốn chiều không gian (Đông- Tây- Nam- Bắc).

Hoặc bảy bước chỉ cho Thất đại: Địa đại (đất), thuỷ đại (nước), phong đại (gió), hoả đại (lửa), hư không đại, kiến đại và thức đại.

Không riêng gì ở Ấn Độ, con số 7 từ bao đời đã là con số thiêng liêng gắn liền với tư tưởng văn hóa của loài người.

6 bước đầu là lục đạo … bước thứ 7 là thánh đạo…

Sự ra đời của đức Phật đã mở ra cho nhân loại một lối thoát khỏi sinh tử khổ đau mà chúng sinh phải cưu mang trong nhiều kiếp luân hồi…..

Hình tượng siêu thực của Phật đản sinh xuất phát từ trong hiện thực. Ngài được sinh ra, lớn lên trong đời. Mỗi bước đi của Đức Phật là mỗi bước làm hóa hiện hạnh nguyện từ bi trí tuệ đem đến tình yêu và hạnh phúc cho muôn loài. Vì thế, kinh điển thường diễn tả Ngài như hoa sen sinh ra trong bùn, mọc lên trong bùn mà không bị nhiễm ô mùi bùn. Thế Tôn cũng thế, sinh ra trong đời, lớn lên trong đời mà không nhiễm mùi đời. Cho nên, hoa sen được biểu tượng cho hình ảnh của Ngài. Phật là hoa sen, hoa sen là Phật. Khi Ngài sinh ra bước đi trên bảy đóa hoa sen là hình ảnh biểu đạt con đường đi đến thăng chứng qua bảy giai trình tu tập: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo. Nói chung là 37 phẩm trợ đạo. Đây chính là con đường đưa Ngài đến thành tựu Vô thượng Bồ đề. Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài không đi tám bước mà Ngài đi bảy bước thôi!

6. Ý nghĩa câu: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”

Thời kỳ Đức Phật đản sinh là thời kỳ triết thuyết Bà La Môn giáo thịnh hành trong xã hội Ấn Độ. Chỉ có Bà la môn là cao quý, Phạm thiên tạo hóa sinh ra muôn loài. Chúng sanh hiện hữu đều do Phạm thiên, thần chủ Bà la môn mà được sinh ra ở đời. Các bậc Thánh nhân cũng thế. Sự Đản sinh của Thế Tôn là nhằm bác bỏ quan điểm truyền thống sai lầm đã ăn sâu trong tín ngưỡng người Ấn Độ bấy giờ. Trên hết, Ngài thị hiện ở đời để xác chứng Ngài sinh ra không phải từ Phạm thiên, Bà la môn nào cả mà Ngài sinh ra từ kết quả nghiệp lành và công hạnh đã tạo lập nhiều đời, nhiều kiếp trong sự nỗ lực tu hành thành tựu quả vị Niết bàn. Sự kiện Phật đản sinh được diễn trình trong bối cảnh hào quang chiếu rọi kỳ diệu và mười ngàn thế giới rung động là để minh chứng có một thế giới giải thoát là có thật. Nó có tác động mạnh mẽ làm chuyển hóa tâm thức chúng sanh muôn nơi, rung động mọi thế giới cho những ai biết hướng tâm nỗ lực tu hành thành Phật. Do đó, Ngài tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.

Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn, phẩm Như Lai Tánh, đức Phật dạy: “Ngã tức là nghĩa Như Lai tạng. Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sinh chẳng nhận thấy được.” Cũng trong kinh này, Phật nói rõ “thân của Như Lai tức là Pháp Thân, chẳng phải thân thịt máu mạch gân xương tủy hợp thành. Vì tùy thuận thế gian mà thị hiện vào thai mẹ, vì tùy thuận cách sanh của chúng sinh mà thị hiện làm đứa trẻ...”.

Cái ngã này tất cả chúng sanh đều có, không ai hơn không ai kém. Nhưng vì chúng ta đã bỏ quên, chưa nhận ra được nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Ví như gã cùng tử có hạt châu trong chéo áo mà không hay biết nên cứ mãi lang thang nghèo khổ.

Và đức Phật đã chỉ cho chúng ta nhận ra cái “Ta” cao quý đó qua quá trình tự thân tu tập, hành trì, chứng ngộ và thành tựu trí tuệ vô thượng, giải thoát Niết Bàn của Ngài. Cùng với lời tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Như vậy, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” không phải chỉ cho cá nhân đức Phật, không phải chỉ cho cái Ngã sinh diệt mà chính là cái Chơn Ngã chẳng hề sanh, chẳng hề diệt mà ai ai cũng có. Cái Ngã đó mới thật là cái “Ta tôn quí”.

          Sự thật cuộc đời hễ hữu hình thì hữu hoại, không một chúng sanh nào thoát khỏi sự khổ não của sanh già bệnh chết. Cho nên, cái Ta ở đây chắc chắn không phải là cái Ta của sanh diệt mà là cái “Ta chân thật”. Chữ Ta ở đây chính là Phật Tánh, là Chân Tâm, chẳng hề sanh chẳng hề diệt, hoàn toàn thanh tịnh, xa lìa tất cả những sự đối đãi. Cái Ta đó không có hình tướng nên không bị huỷ diệt. Nó trùm khắp cả không gian và thời gian.

Thật thâm thúy cho lời nói đầu tiên này của đấng siêu phàm ngàn lần tôn quý, như là một bài thuyết pháp đã nói lên rằng: “Chính cái ngã độc tôn siêu việt này là viên ngọc vô cùng vi diệu”. Phải chăng đây là viên ngọc Phật tính thường hằng, thanh tịnh bất biến trong mỗi con người mà khi vừa thị hiện, Ngài đã nhận ra được chân lý ấy. Chỉ có cái chân ngã độc tôn này, con người xây dựng một cuộc sống thật sự an lạc và giải thoát.

  Như vậy, khi nói câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” Ðức Phật, lúc ấy là Thái Tử Tất Ðạt Ða, không nói về cá nhân ngài, về cái thân tứ đại ngũ uẩn sinh diệt, mà nói về cái Tâm Chân Thật, cái Ngã Chân Thật của chúng sinh. Chính cái Tâm đó mới là tôn quý, mới là tối thượng và cái Tâm Chân Thật đó chính là Tâm Phật mà ai ai cũng có, bất luận giàu nghèo sang hèn, bất luận màu da ngôn ngữ, bất luận tôn giáo chính kiến.

V. Ý NGHĨA NGÀY PHẬT ĐẢN

  Sự giáng phàm của đức Phật là một bước ngoặt để đánh dấu một sự khai sanh mới cho xã hội Ấn Độ nói chung và toàn thể nhân loại nói riêng. Ngài không buộc ai phải quy ngưỡng Ngài, cũng không buộc ai tin Ngài mà chỉ mong mọi người hãy tin, hiểu và thực hành đúng với tâm nguyện của mình thì mới đem lại cho mình sự liễu sanh thoát tử. Từ hình ảnh Đức Phật đản sinh ấy đã cho chúng cho ta những lời pháp quý giá, cùng muôn ngàn phương pháp tu tập nhiệm mầu. Càng mầu nhiệm hơn, mừng ngày khánh đản ta noi gương Đức Phật, để tu tâm sửa tính tịnh thanh. Ngày và đêm chứa chan đức hạnh, tháng cùng năm khai mở từ tâm. Điều đó cho thấy, giáo pháp của Ngài tồn tại mãi mãi trong dòng chảy vô tận của cuộc sống con người.

  Qua đó, chúng ta nỗ lực, tinh tấn thanh lọc tâm ý, hướng thiện, tích tụ nghiệp tốt để một ngày nào đó có thể làm chủ được sự tái sanh, chủ động trong luân hồi sanh tử trầm luân đầy những bất trắc, để trọn vẹn đi trên con đường Bồ-tát đạo lợi lạc quần sanh.

C. KẾT LUẬN

Sự giáng sanh của đức Phật là một bước ngoặt để đánh dấu một sự khai sanh mới cho xã hội Ấn Độ nói chung và toàn thể nhân loại nói riêng. Những hình ảnh xuất hiện trong ngày Phật đản sanh bao hàm một ý nghĩa rộng lớn và thiết thực, đem đến sự an lạc và niềm tin cho tất cả nhân loại trên thế giới. Ngày Phật đản là ngày mà người con Phật trên khắp thế giới đều hân hoan chào đón. Đức Phật không phải là một nhân vật huyền thoại mà là  nhân vật có thật trong lịch sử nhân loại, đã từng sống trong thế gian này. Ngài vẫn là một con người bình thường bằng xương bằng thịt, có sanh ra, có tu tập, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn.

Bắt nguồn một tôn giáo nào, vị giáo chủ bao giờ cũng là một tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Nhưng trong các vị giáo chủ của các tôn giáo hiện có trên thế giới này, không có một vị nào đầy đủ ý nghĩa cao đẹp, một đời sống sâu xa bằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, cho đến mỗi im lặng của Ngài đều là những bài học quý báu cho chúng ta noi theo.

Sự Đản sinh của Thế Tôn là nhằm bác bỏ quan điểm truyền thống sai lầm đã ăn sâu trong mỗi con người chúng ta. Trên hết, Ngài thị hiện ở đời để xác chứng Ngài sinh ra không phải từ Phạm thiên, Bà la môn nào cả mà Ngài sinh ra từ kết quả nghiệp lành và công hạnh đã tạo lập nhiều đời, nhiều kiếp trong sự nỗ lực tu hành thành tựu quả vị Niết bàn.

  Sự kiện Phật đản sinh được diễn trình trong bối cảnh hào quang chiếu rọi kỳ diệu và mười ngàn thế giới rung động là để minh chứng có một thế giới giải thoát là có thật. Nó có tác động mạnh mẽ làm chuyển hóa tâm thức chúng sanh muôn nơi, rung động mọi thế giới cho những ai biết hướng tâm nỗ lực tu hành thành Phật.

Gần ba thiên niên kỷ trôi qua, tiến trình phát triển của con người đã bao lần thay da đổi thịt, biết bao bài diễn văn được chép vào trang đại sử. Trong đó, cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật là bức thông điệp muôn thuở cho con người khảo nghiệm và thực hành. Lời dạy của Ngài như là ngọn hải đăng soi sáng con người có thể vượt thoát mọi khổ đau để đi đến một cuộc sống tràn đầy thương yêu yên bình và hạnh phúc. Đó mới chính là ý nghĩa “Đản Sanh”.

Đạo Phật là đạo đến để thấy! Thấy để mà tu hành! Tu hành để thành Phật. Phật đản sanh hôm nay chính là Phật đản sinh trong lòng khi chúng ta cất tiếng kinh cầu, sống theo lời Phật dạy, từng bước nở đóa hoa sen, hướng về miền đất an lạc.

 


Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 309
Pháp Âm: 7.752
Đang truy cập
Hôm qua: 479
Tổng truy cập: 690.888
Số người đang online: 15