Top

tin tuc ngay nay

Trách Nhiệm Hộ Pháp Của Người Cư Sĩ

Chủ nhật | 09/06/2019
Giống như giới xuất gia, người cư sĩ trong Phật giáo cũng có trách nhiệm nặng nề đối với việc tồn vong của chánh pháp.

                                                            HT. Thích Bảo Nghiêm

                                                                                             Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự GHPGVN

                                                                                                          Trưởng Ban Hoằng Pháp TW GHPGVN

  1. DẪN NHẬP

Người cư sĩ Phật giáo không phải là người chỉ đến với Phật giáo như một học giả nghiên cứu triết học Đông phương, mà còn phải nhận thức rõ vai trò của mình đối với Phật pháp, phải thiết tha sống theo tinh thần lời dạy của Đức Phật để hướng tìm mục đích giải thoát, thành tựu hạnh phúc thật sự.

Giống như giới xuất gia, người cư sĩ trong Phật giáo cũng có trách nhiệm nặng nề đối với việc tồn vong của chánh pháp. Đức Phật có khuyên rằng: "Ở đây, sau khi Như Lai nhập diệt, các tỳ kheo, các tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống tôn trọng và qui thuận bậc Đạo Sư, sống tôn trọng và qui thuận giáo pháp, sống tôn trọng và qui thuận Tăng chúng, sống tôn trọng và qui thuận học giới, sống tôn trọng và qui thuận lẫn nhau. Đây là nguyên nhân chánh pháp được tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt" (A.III.247).

  1. NỘI DUNG

Người cư sĩ chân chánh trong Phật giáo có hai vai trò:
           1. Vai trò người hộ pháp (Dhammarakkhaka).
           2. Vai trò người thừa tự pháp (Dhammadāyadaka).
1. Vai trò hộ pháp (Dhammarakkhaka)

 Hộ trì Phật Bảo

Đức Phật là bậc giác ngộ chân lý, bậc đã tìm ra pháp giải thoát, bậc kính trọng chánh pháp. Người cư sĩ hộ trì Phật bảo bằng bốn hình thức sau đây:

  1. Giữ vững niềm tin đối với Phật, không có hoài nghi sự giác ngộ của Ngài.
  2. Hằng tán dương Đức Phật và hoan hỷ người khác tán dương Đức Phật.
  3. Thường xuyên lễ bái Đức Phật qua hình, tượng, xá lợi.
  4. Xây dựng đền tháp, tôn thờ Phật cảnh trang nghiêm để tôn vinh Đức Phật. Nếu không có khả năng tự mình làm thì ủng hộ người khác cùng làm.

Việc thờ phụng Đức Phật, người cư sĩ làm vai trò ấy là hợp lý hơn các vị xuất gia. Khi Đức Thế Tôn sắp viên tịch, tôn giả Ānanda đã bạch hỏi Ngài về việc xử sự đối với thân Xá Lợi của Thế Tôn phải như thế nào? Đức Phật bảo rằng: "Này Ānanda, các ngươi chớ bận lo việc thờ phượng Xá Lợi của Như Lai; hãy tinh tấn tự lợi, hãy chuyên cần tự lợi, hãy sống nỗ lực nhiệt tâm, không dể duôi. Này Ānanda, có các hiền trí Sát đế lỵ, các hiền trí Bà la môn, các hiền trí gia chủ tín ngưỡng Như Lai, những người ấy sẽ thờ phượng thân xá lợi của Như Lai" (D.II.141).

    b) Hộ trì Pháp bảo

Giáo lý của Phật là lời dạy, là pháp đem đến sự an vui cho chúng sinh thiết thực hiện tại, lợi ích tương lai, và thoát khỏi luân hồi. Giữ vững giáo pháp cho đúng tinh thần chính pháp, không để bị mai một, bị sai lệch văn cú ý nghĩa lời dạy của Phật gọi là hộ pháp. Người cư sĩ hộ trì Pháp bảo bằng năm hình thức sau đây:

  1. Giữ vững niềm tin đối với giáo pháp, không có hoài nghi về hiệu năng hướng thượng của Giáo pháp.
  2. Siêng năng học hỏi giáo pháp, thọ trì đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan, không xu hướng ngoại đạo.
  3. Hoan hỷ cúng dường đến các vị Tỳ kheo, Sa di là bậc đa văn, những vị học pháp, hành pháp và duy trì giáo pháp.
  4. Có sự ưu tư trong việc chấn hưng Phật pháp khi thấy có dấu hiệu bi suy thoái, bị phá hoại.
  5. Tùy khả năng của mình, hỗ trợ chư Tăng kết tập kinh điển, in ấn kinh sách, mở trường lớp Phật học v.v...

Từ thời Đức Phật đã có những tấm gương cư sĩ hộ pháp như ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika), bà Visākhā, vua Ba Tư Nặc (Pasenadi), sau này có vua Asoka (A Dục Vương)... chẳng những họ cúng dường vật chất ủng hộ Đức Phật và Tăng chúng, mà họ còn rất quan tâm hộ trì chính pháp, cũng cố Phật pháp, giúp cho giáo pháp càng thêm hưng thịnh.

Người cư sĩ hộ trì chính pháp nổi bậc nhất là đức vua Asoka (A Dục vương). Với uy quyền trong tay, nhà vua đã cố gắng học Phật pháp cho thông suốt để sàng lọc ra những vị tu sĩ giả danh gây xáo trộn trong Phật giáo. Nhà vua cũng đã nhiệt tâm ủng hộ chư Tăng trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ ba. Nhà vua cũng tận tâm khuyến khích chư Tăng đi hoằng pháp mở mang Phật giáo đến các nước lân bang.

     c) Hộ trì Tăng bảo

Tăng chúng là những vị đệ tử thừa hành giáo lý của Phật, truyền thừa Phật pháp tồn tại trong thế gian ngay khi Đức Phật còn tại thế và sau khi Phật nhập Niết bàn. Tăng chúng còn là Giáo pháp còn nên gọi là hộ pháp. Người cư sĩ hộ trì Tăng bảo bằng năm hình thức sau đây:

  1. Có niềm tin vững chắc nơi Tăng chúng, không vì lý do một vài cá nhân xấu mà mất niềm tin với Tăng chúng.
  2. Thường xuyên cúng dường các nhu cầu vật chất đến chư Tăng.
  3. Luôn luôn bảo vệ uy tín và thanh danh cho Tăng chúng.
  4. Quan tâm đến sự an nguy thịnh suy của Tăng chúng, đồng vui cộng khổ với chư Tăng.
  5. Đối xử với Tăng chúng bằng sự kính trọng và nhu thuận.

Các cư sĩ thời Đức Phật như ông Jīvakakomārabhacca, bà Visākhā, vua Pasenadi ... là những người hộ Tăng tiêu biểu, vừa cúng dàng thực phẩm, vừa bảo vệ thanh danh chư Tăng, vừa khéo góp ý nhắc nhở những vị có hành vi sai trái để chấn chỉnh Giáo hội tốt đẹp.

2. Vai trò thừa tự pháp (Dhammadāyadaka)

Thừa tự (dāyada) là sự kế thừa, thừa hưởng, như là thừa tự tài sản, thừa hưởng gia sản v.v... thừa tự pháp là kế thừa Giáo pháp của Phật. Trong một bài kinh thuộc Trung Bộ, Thế Tôn có dạy rằng: "Này các tỳ kheo, các ngươi hãy là người thừa tự pháp của ta, đừng là người thừa tự tài vật - Dhamma-dāyādā me bhikkhave bhavatha mā āmisadāyādā" -- (M.I.12). Ở vai trò thừa tự pháp, người cư sĩ có ba phận sự: Học hỏi giáo lý, thực hành giáo pháp và duy trì Phật giáo.

  1. Học hỏi giáo lý

Để lãnh hội những tinh hoa Phật pháp và có được chánh kiến, người cư sĩ phải siêng năng học hỏi giáo lý, ưa thích tìm hiểu Phật pháp. Như một người con kế thừa sự nghiệp của ông cha, là phải biết được giá trị những gì mà ông cha đã để lại, cũng vậy, giáo pháp mà đấng từ phụ đã để lại, đệ tử xuất gia hay tại gia phải chuyên cần học tập để biết được giá trị của giáo pháp ấy, như thế mới đáng gọi là đệ tử thừa tự pháp.
Người cư sĩ học hỏi giáo lý bằng nhiều phương tiện, có thể bằng cách:

  1. Nghe chư Tăng thuyết Phật pháp.
  2. Nghiên cứu tham khảo kinh sách Phật giáo.
  3. Luận đàm Phật pháp.

Các cư sĩ thời xưa khi đến viếng thăm Phật hay các vị Tỳ kheo, bao giờ họ cũng hoan hỷ nghe pháp, thiết tha học giáo pháp, như vua Pasenadi, ông Anāthapiṇḍika, bà Visākhā v.v...

    b) Thực hành giáo pháp

Người cư sĩ không phải chỉ đơn thuần là người có tín ngưỡng tôn giáo, là người theo đạo Phật. Người cư sĩ phải sống theo pháp, thực hành giáo pháp, chấp nhận giáo pháp ứng dụng vào đời sống như là một nhu cầu không thể thiếu. Người cư sĩ có thực hành như vậy mới hưởng được hương vị tuyệt vời của giáo pháp, có nếm qua món ăn mới thưởng thức được hương vị của món ăn đó. Người cư sĩ thừa tự pháp, phải thật sự cảm nhận được sự đặc thù của chánh pháp qua kinh nghiệm tu tập.


Người cư sĩ ngoài việc học hỏi giáo lý thông suốt, còn phải thực hành nữa. Khi nào còn người thực hành theo giáo pháp, thì khi đó Phật pháp còn tồn tại. Bởi thế, vai trò thừa tự pháp của người cư sĩ rất quan trọng.
Sự thực hành giáo pháp được nói rõ trong kinh Pháp Cú kệ 183, Phật dạy ba điều căn bản cho người cư sĩ:

  1. "Chớ làm các điều ác" (Sabbapāpassa akaranam): Nghĩa là người cư sĩ nguyện không làm điều ác tội lỗi như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói chia rẽ, nói độc ác, nói vô ích, tham lam, sân hận và tà kiến.
  2. "Nên làm các việc lành" (Kusalassa upasampadā): Nghĩa là người cư sĩ thiết tha làm những điều thiện như bố thí, trì giới, cung kính, phục vụ, thính pháp, nói pháp, hồi hướng phước, tùy hỷ phước và sống chánh tri kiến.
  3. "Tự tịnh tâm ý mình" (Sacittapariyodapanam): Nghĩa là người cư sĩ tinh tấn thiền định để rèn luyện nội tâm, làm cho tâm trong sạch không bị ô nhiễm bởi phiền não tham, sân, si.

        c) Duy trì Phật giáo
Ngoài hai phận sự là học hỏi giáo lý và thực hành giáo pháp, người cư sĩ còn có một phận sự nữa cũng rất quan trọng, đó là duy trì Phật giáo.

Phật giáo được tồn tại lâu dài là nhờ vào bốn chúng: Tỳ khiêu, Tỳ khiêu ni, cận sự nam và cận sự nữ hết lòng phụng sự duy trì chánh pháp. Trong bốn chúng ấy, Tỳ khiêu và Tỳ khiêu ni là hàng xuất gia; cận sự nam và cận sự nữ thuộc hàng tại gia cư sĩ. Bậc xuất gia đóng vai trò chính trong phận sự duy trì Phật pháp vững bền; đối với hàng cư sĩ đóng vai trò không kém phần quan trọng.

Vì nếu người cư sĩ không ủng hộ cúng dường hoặc bảo vệ Tăng chúng Phật giáo thì làm sao các vị Tỳ khiêu, Tỳ khiêu ni có điều kiện thuận lợi làm phận sự duy trì Phật pháp? Bởi thế, người cư sĩ cũng có phận sự duy trì Phật giáo. Một thời, khi đức vua Asoka (A Dục vương) trở thành Phật tử, đức vua đã ra sức xây cất 84.000 chùa tháp để tôn thờ Xá lợi Đức Phật. Đức vua bạch hỏi chư Thánh Tăng: Sự đại thí như vầy, không biết có ai đã từng làm chưa? Trưởng lão Moggalliputtatissa thay mặt chư Tăng đã trả lời rằng: "Thưa Đại vương, dù khi Đức Thế Tôn còn hiện tiền và cho đến nay cũng chưa có một ai làm được việc đại thí như thế này. Chỉ có Đại vương là nguời duy nhất làm được việc đại thí này thôi".
Đức vua Asoka lắng nghe trưởng lão Moggalli-puttatissa trả lời, lòng tràn ngập phỉ lạc. Vua đã suy nghĩ, nếu ta là người đã làm được đại thí này chắc hẳn ta là người thừa tự Phật giáo (Dāyādo sāsanassa) chăng? Nghĩ vậy, Đức vua bèn bạch hỏi vị trưởng lão nữa, "Kính bạch Tôn giả, trẫm đã làm được đại thí như thế, vậy trẫm có phải là người thừa tự của Phật giáo chăng?" Trưởng lão đáp: "Thưa đại vương, người chỉ bố thí bốn món vật dụng, dù có là đại thí chăng nữa cũng chỉ gọi là thí chủ vật dụng (paccayadāyaka), chứ chưa phải là người thừa tự Phật giáo (sāsanadāyada).
Đức vua liền hỏi vị trưởng lão, người thế nào mới gọi là thừa tự Phật giáo. Trưởng lão đáp: "Những người cha mẹ nào hoan hỷ cho phép con của mình xuất gia trở thành Tỳ khiêu trong Phật giáo, như vậy, người cha mẹ ấy mới được gọi là người thừa tự Phật giáo."


Đức vua Asoka nghe vậy khởi tâm tịnh tín bèn cho phép hai người con là hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamittā xuất gia làm Tỳ khiêu và Tỳ khiêu ni trong Phật giáo. Sau khi xuất gia, cả hai vị đều đắc quả A la hán, và chính Đại Đức Mahinda đã mở đầu công cuộc hoằng hóa giáo pháp tại xứ Tích Lan.

  1. KẾT LUẬN

Các bậc xuất gia duy trì Phật pháp bằng cách hoằng pháp, còn đối với người cư sĩ thì duy trì Phật pháp bằng cách hộ trì chư Tăng hoằng pháp, và tạo người nối truyền hoằng pháp, đưa Phật pháp đến mọi nhà, đưa người về chùa học hỏi Phật giáo. Chỉ có thực hành làm những việc tốt đẹp như vậy mới hoàn thành trách nhiệm hộ pháp của người cư sĩ.


Các tin khác

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 311
Pháp Âm: 7.880
Đang truy cập
Hôm qua: 228
Tổng truy cập: 757.126
Số người đang online: 6