Top

tin tuc ngay nay

Hoằng pháp và trụ trì

Thứ 7 | 15/06/2019
Đức Phật đã giao trọng trách truyền bá chánh pháp cho Tăng Ni, cho nên đối với Tăng Ni, việc hoằng pháp là việc chính yếu để Phật pháp được cửu trụ, thường gọi là Hoằng pháp vi gia vụ.

Đức Phật đã giao trọng trách truyền bá chánh pháp cho Tăng Ni, cho nên đối với Tăng Ni, việc hoằng pháp là việc chính yếu để Phật pháp được cửu trụ, thường gọi là Hoằng pháp vi gia vụ. Riêng đối với vị trụ trì, còn có trách nhiệm "Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”; không phải trụ trì chỉ là người giữ chùa. Việc quan trọng là "Trụ pháp vương gia”, tức phải ở trong nhà của đấng Pháp vương và "Trì Như Lai tạng”. Như vậy, phải nhận ra ngôi nhà của đấng Pháp vương ở đâu và Như Lai tạng là gì, mới làm được việc này. Không biết thì làm sao vào đó ở và giữ gìn được.

Đức Phật thành đạo ở cội Bồ đề, Ngài đã phát hiện thế giới trùng trùng duyên khởi, đó là ngôi nhà của ba đời mười phương Phật theo tinh thần Hoa Nghiêm. Trên bước đường tu, chúng ta phải bước chân vào ngôi nhà này mới thấy được sự thiên biến vạn hóa mà kinh thường diễn tả là ngộ Tỳ Lô tánh, hiện Tỳ Lô thân và ứng Tỳ Lô dụng.

Trước nhất, phải nhận ra tánh Tỳ Lô và thấy rõ nhà Tỳ Lô trùng trùng duyên khởi và ứng Tỳ Lô dụng là giáo hóa chúng sinh trong mười phương ba đời không cùng tận. Sở dĩ Phật pháp tồn tại từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi về sau là nhờ từ nhà Như Lai này mà hiện ra tất cả mọi diệu dụng. Vị trụ trì phải nhận chân sâu sắc tinh thần này và sống được với nó.

Điều quan trọng là phải vào nhà Như Lai. Kinh Pháp Hoa dạy rằng nhà Như Lai là tâm từ, hay còn gọi là tâm Bồ đề; không có tâm này, không vào cửa đạo được. Chúng ta phát tâm Bồ đề vì thương chúng sinh và bản thân mình trôi lăn trong sinh tử khổ đau, chấp nhận những cái khổ không đáng. Ta phát tâm Bồ đề, mà Bồ đề là trí giác; nghĩa là ta cầu trí giác hay trí tuệ vô lậu. Vì thế, người tu lấy trí tuệ làm sự nghiệp, tất cả những việc khác đều là phụ; vì không có trí tuệ, không thể vào nhà Như Lai, không thoát ly sinh tử, thì chúng ta tu gì cuối cùng cũng bị lạc đường và bị đọa.

Bồ đề tâm nhất định phải giữ gìn, kiếp tái sinh mới tu được. Chúng ta sợ mất tâm Bồ đề, không sợ mất thân; vì thân ví như cái áo, áo này rách thì có áo khác, tức có thân sau tốt hơn. Tất cả chúng ta ngày nay nhờ đã phát tâm Bồ để ở những kiếp trước, nên tái sinh hiện đời chúng ta mới có thân người, được gặp Phật pháp và được xuất gia tu hành; đó là ba việc khó được mà chúng ta đã được.

Chùa Kim Cang đã từng lưu dấu chân hành đạo của các vị Tổ sư vang danh như Tổ Khánh Hòa, Tổ Khánh Anh. Các Ngài đã làm được nhiều công đức lớn lao nhờ có thân người, thâm nhập Phật pháp và ngộ được tánh Tỳ Lô. Thật vậy, Tổ Khánh Hòa ngộ được Tỳ Lô tánh, mới có thể bán chùa Tiên Linh để mở trường Phật học và thỉnh ba tạng kinh cho Tăng Ni tu học. Ngài dạy rằng có chùa mà không có kinh điển soi đường dẫn bước cho Tăng Ni tu học thì cũng như không. Nói cách khác, không có Bồ đề tâm, cuộc sống của người tu trở nên vô nghĩa. Thiết nghĩ trong kiếp luân hồi sinh tử này, chúng ta đã từng thay đổi biết bao mạng sống, nhưng ngày nay, may mắn gặp được Phật pháp, cần phải bám chặt vào chiếc phao cứu mạng này. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, một số người lo giữ chùa cũng không thể giữ được, lo giữ mạng sống thì cũng mất rồi. Chỉ giữ Bồ đề tâm và phát huy Bồ đề tâm, chúng ta mới thoát được những hiểm nạn. Nhờ Bồ đề tâm, mới dám từ bỏ sự nghiệp vật chất, mới tu được. Riêng tôi, với Bồ đề tâm soi sáng, tôi biết đã đúng lúc mình hoằng pháp hay chưa, tức nhận thức được thời kỳ hoằng pháp của chúng ta. Hoằng pháp được mà lại ẩn tu, khiến Phật pháp không phát triển là có tội; nhưng lúc cần ẩn tu, lại hoằng pháp thì mất mạng như không.

Cần ý thức chúng ta đang ở trong thời kỳ nào, thời chánh pháp, tượng pháp, hay mạt pháp. Có nhiều kiến giải khác nhau về ba thời kỳ này. Có người nói thời chánh pháp là 500 năm đầu sau Phật diệt độ, thời tượng pháp là 500 năm thứ hai và thời mạt pháp là 1000 năm sau. Tuy nhiên, cũng có kiến giải khác để chúng ta có thể nương theo tu hành; theo đó, thời kỳ chánh pháp là thời kỳ ươm mầm của Phật giáo. Nghĩa là thời kỳ mà Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời và Ngài trực tiếp giáo hóa. Người may mắn gặp được Phật với thân hảo tướng và đức hạnh toàn vẹn, họ dễ dàng phát tâm Bồ đề và đạt được những Thánh quả, không chút nhọc công. Điều này chúng ta dễ nhận rõ trong thực tế cuộc sống, nếu gặp một bậc cao Tăng đạo hạnh, sáng suốt, chúng ta dễ phát tâm Bồ đề; nhưng ngược lại, thấy một người tu phạm trai phá giới, chúng ta chán nản, khó tu theo.

Thời chánh pháp thể hiện sự đúng đắn nhất, thì chỉ có Phật là đấng Toàn giác, đúng hoàn toàn; còn các vị khác chỉ được một phần giác mà thôi. Như vậy, Phật là biểu tượng quan trọng nhất đối với chúng ta, Phật thể hiện chánh pháp; cho nên trên bước đường tu, chúng ta cần nương vào chánh pháp, tức nương vào Phật.

Thời tượng pháp là thời kỳ giống Phật, giống về hình thức, nhưng phẩm chất bên trong khác. "Tượng” là giả. Ví dụ vua thực thì có quyền cai trị đất nước. Còn ông vua trên sân khấu cũng mặc áo giống như vua, nhưng là vua giả.

Tất nhiên, chúng ta ở thời kỳ cách Phật rất xa, nên phải cố tìm được Phật. Tu Pháp Hoa, Ngài Trí Giả nói rằng Ngài thấy hội Linh Sơn của Phật chưa tan, nghĩa là thấy Phật thực còn đang thuyết pháp. Vì Ngài vẫn trụ được trong thời kỳ chánh pháp, mới thấy Phật và nghe được pháp âm của Phật, mới đắc đạo, làm Tổ. Còn chúng ta ở trong thời tượng pháp hay mạt pháp, mà nương theo "cái mường tượng giống Phật”, chắc chắn khó đắc đạo.

Kinh Pháp Hoa dạy rằng Phật thực không nhập diệt, tức không có sinh tử. Chúng ta phải tìm Phật không sinh tử và tu với Phật không sinh tử. Phật không sinh tử của chúng ta đang ở thế giới Vô sanh và Ngài hiện lên thế giới sinh diệt để thuyết pháp giáo hóa. Và giáo hóa người sinh diệt xong, Ngài nói rằng việc đáng làm đã làm, người đáng độ đã độ, điều đáng nói đã nói và Phật nhập Niết bàn. Đức Phật cũng cho biết Ngài ở Ta bà hoàn mãn việc giáo hóa độ sinh xong, thì trở về thế giới Thường Tịch Quang. Tất nhiên, ai muốn gặp Phật thì đến đó.

Trí Giả đại sư căn cứ lời dạy này, tìm thấy Phật ở Thường Tịch Quang và thấy Phật đang thuyết pháp. Người không thấy Phật, mới nói Phật không còn hiện hữu và tùy tiện sống, làm sao đạt kết quả tốt đẹp trên bước đường tu. Phải thấy Phật còn đang thuyết pháp và đang hộ niệm chúng ta, mới tiến tu được. Thật vậy, Phật nhắc ý này trong kinh Hoa Nghiêm rằng niềm tin là mẹ sinh ra tất cả công đức lành. Chúng ta đặt trọn niềm tin ở Phật, ở lời dạy của Phật và thực hành theo sự chỉ dạy của Ngài, sẽ thấy công đức từ từ sinh ra và đi lần vào thế giới Phật; nói cách khác là thấy Phật.

Đức Phật thực có một, nhưng Ngài thành Phật ở thế giới này có tên này, ở nơi khác, có tên khác và Ngài làm Phật sự chưa từng dừng nghỉ. Ý này được Phật chỉ rõ trong phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16: "… Từ ta thành Phật đến nay trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp thường ở Ta bà, thị hiện sanh thân trong nhiều quốc độ thuyết pháp giáo hóa vô số chúng sanh, thọ mạng sai khác, tùy theo loại hình mà khai phương tiện chỉ bày chân thật thậm thâm vi diệu …”.

Nhận thức sâu sắc sự hiện hữu vĩnh hằng bất tử của Pháp thân Phật, chúng ta cảm nhận được rằng ở trên ta, ở trong ta và xung quanh ta, chỗ nào cũng có Phật. Ở ngay trong chùa này cũng có Phật, không có Phật thì làm sao Hòa thượng Kim Cang ngộ đạo. Trí Giả đại sư thấy Phật đang thuyết pháp. Nhật Liên Thánh nhân thấy ở đâu cũng có Phật và các Thiền sư đắc đạo cũng nói tội nghiệp cho những người cõng Phật đi tìm Phật, do vì vô minh vọng kiến ngăn che, ví như người mù không thể nào thấy Phật dù Ngài đứng trước mặt họ.

Quý vị trụ trì chắc cũng nhận rõ ý này. Có người tu rất bình thường, nhưng làm được những Phật sự quan trọng, tưởng họ giỏi; nhưng khi họ đánh mất mối tương quan với Phật, không nhận được sự hộ niệm của Phật nữa, thì cởi bỏ áo tu, hoàn tục, không làm được gì. Thiết nghĩ khoác áo tu, ít nhất cũng quét dọn chùa, nên cũng được Phật che chở; nhưng từ bỏ ân huệ của Phật, rời chùa đi ra là mất hết. Đức Phật còn đang che chở ta, nhưng ta không thấy không biết. Đối với tất cả chúng ta, điều quan trọng là phải nhận ra Phật để từ đó tu, nhất định đạt kết quả tốt đẹp.

Pháp căn bản mà Phật dạy chúng ta là Tứ Thánh đế, theo đó thực hành để thấy Phật. Tứ Thánh đế có sanh diệt Thánh đế và vô sanh Thánh đế. Đứng về mặt vô sanh mà quán tứ Thánh đế, Phật nói rằng không có sinh tử, tức Phật tánh, Pháp thân không có sinh tử. Nhưng vì bị nghiệp ngăn che, tác động khiến chúng ta thấy có sinh tử. Ví như chúng ta ngủ, chiêm bao thấy đủ mọi việc. Sinh tử mà chúng ta đang sống, đang thấy giống như giấc mơ, tỉnh dậy thì mất. Cuộc đời này là giấc mộng dài, giấc mơ là giấc mộng con trong giấc mộng dài. Tỉnh giấc mộng dài thì tất cả mọi việc tốt xấu của cuộc đời đều tiêu tan.

Nhận chân được vô sanh Thánh đế và từ đây khởi tu, chúng ta đi tắt vào năm căn lành để phát triển đạo hạnh. Năm căn lành là tín, tấn, niệm, định và huệ giúp chúng ta nhận ra Phật và đưa chúng ta đi vào thế giới Phật. Cần tuần tự phát huy năm căn lành này.

Trước nhất, khi tu chúng ta đặt trọn niềm tin ở Đức Phật, vì ta biết chắc chắn rằng có Phật hiện hữu trên cuộc đời này, như Trí Giả sống cách Phật cả ngàn năm mà Ngài nói thấy Phật hiện đang thuyết pháp; còn Ngài Nhật Liên thì nóiở đâu cũng có Phật. Ta tin có Phật, có thế giới Phật thực và Đức Phật chúng ta là bậc siêu tuyệt trên thế gian, cho nên chúng ta sẵn sàng từ bỏ cuộc đời để đi tìm Đức Thế Tôn và thế gới của Ngài. Khởi đầu con đường tu của chúng ta là như vậy. Các Thầy tu không có mục tiêu như thế, chắc chắn không giống Phật, không vào đạo được.

Tin có Phật, mới đi tìm Phật. Chúng ta tìm Phật trong kinh điển, xem những điều ẩn dụ Ngài chỉ dạy để biết Phật ở đâu. Hạ quyết tâm tìm Thầy học đạo, tìm Phật trong kinh điển là người có căn lành, nhất định có kết quả tốt đẹp, như Thầy Tổ chúng ta đã từng được. Căn lành thứ ba là niệm tâm, tức tâm tập trung để tìm Phật, để chứng nghiệm giáo lý Phật dạy. Nhờ tập trung niệm tâm soi rọi vào pháp Phật, chúng ta nhận ra yếu nghĩa, theo đó tu hành, sẽ thành tựu những việc Phật dạy. Và đi sâu quán chiếu vào con người thực của chúng ta là định và huệ. Định là tâm hồn bình ổn và huệ là trí giác, nên thâm nhập vào thế giới Phật, thấy được Phật, nghe được pháp. Từ đó, nhìn vào cuộc đời, biết chỗ hiểm nạn tránh được và chỗ cần đến để giáo hóa. Vì vậy, vượt được đường hiểm sinh tử bằng định và huệ của chúng ta. Pháp này đối với Thầy trụ trì rất quan trọng, vì có người tốt đến, ta biết họ muốn gì, nhờ gì, ta sẵn lòng giúp đỡ và tạo điều kiện cho họ phát tâm. Thành tựu pháp như vậy, ngồi yên vẫn giáo hóa được chúng sinh hữu duyên. Ta chỉ cần người hữu duyên tìm đến và cần họ phát tâm Bồ đề. Còn vọng tâm muốn độ người giàu, người giỏi không thể được.

Mong rằng tất cả quý vị trong mùa an cư, thể nghiệm được pháp Phật, thăng hoa trên con đường giác ngộ, giải thoát và làm lợi lạc cho chúng hữu tình.  
                                                                                                                                                            HT. Thích Trí Quảng

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 222
Pháp Âm: 7.036
Đang truy cập
Hôm qua: 531
Tổng truy cập: 510.127
Số người đang online: 10